Môn Ngữ Văn: Viết Bài Nghị Luận Xã Hội

--- Bài mới hơn ---

  • Cấu Trúc Bài Tiểu Luận Như Thế Nào Được Gọi Là Hoàn Chỉnh?
  • Cách Viết Bài Luận Thu Hút Vào Các Trường Hàng Đầu Nước Mỹ
  • 100 Chủ Đề Bài Luận Thuyết Phục
  • Luyện Viết Tiếng Pháp Thôi!
  • Sửa Bài Viết Tiếng Pháp (7): Văn Nghị Luận
  • Trong nội dung hạn chế đề thi tuyển sinh cao đẳng và đại học 4 năm gần đây (từ 2009), đây là phần được coi là mới nhất. Đúng ra, dạng đề thi thuộc loại này trước đây đã từng rất quen thuộc với học sinh. Có một thời kì, trong đề thi làm văn của học sinh bậc phổ thông trung học, người ta không còn ra loại đề này. Chính thức từ kì thi năm 2009, dạng đề thi này mới quay trở lại, nên học sinh, nhất là khối thí sinh tự do cảm thấy bỡ ngỡ. Tuy nhiên, với những học sinh đã học chương trình mới từ đầu, nếu được thầy cô giảng dạy chu đáo và bản thân thường xuyên rèn luyện, đây cũng chỉ là bài làm văn thông thường, không khó.

    Khái lược về văn nghị luận

    “Nghị luận là một thể loại văn học đặc biệt, dùng lí lẽ, phán đoán, chứng cứ để bàn luận về một vấn đề nào đó (chính trị, xã hội, văn học nghệ thuật, triết học, đạo đức). Vấn đề được nêu ra như một câu hỏi cần giải đáp, làm sáng tỏ. Luận là bàn về đúng, sai, phải, trái, khẳng định điều này, bác bỏ điều kia, để người ta nhận ra chân lí, đồng tình với mình, chia sẻ quan điểm và niềm tin của mình. Sức mạnh của văn nghị luận là ở sự sâu sắc của tư tưởng, tình cảm, tính mạch lạc, chặt chẽ của suy nghĩ và trình bày, sự thuyết phục của lập luận. Vận dụng các thao tác như giải thích, phân tích, chứng minh, bác bỏ, so sánh…” (Sách giáo khoa Ngữ Văn 11, tập 2).

    Nghị luận xã hội là những bài văn bàn về xã hội, chính trị, đời sống. Đề tài của dạng bài nghị luận xã hội cũng hết sức rộng mở. Nó gồm tất cả những vấn đề về tư tưởng, đạo lí, một lối sống đẹp, một hiện tượng tích cực hoặc tiêu cực trong cuộc sống hàng ngày, vấn đề thiên nhiên môi trường, vấn đề hội nhập, toàn cầu hoá…Nghĩa là, ngoài những tác phẩm nghị luận văn học (lấy tác phẩm văn học, nhà văn làm đối tượng), tất cả các dạng văn bản viết khác đều có khả năng được xếp vào dạng nghị luận xã hội, chính trị.

    Các dạng câu hỏi

    Do đây là loại câu hỏi bắt buộc trong chương trình thi, nhưng lại không có những bài học sẵn như nghị luận văn học, để làm tốt câu hỏi này, thí sinh cần phải nắm vững các vấn đề sau:

    + Phải biết phát huy mọi loại kiến thức, trong nhà trường cũng như trong cuộc sống để so sánh, phát triển, vận dụng vào bài viết sao cho phong phú, sâu sắc, đầy đủ, cô đúc nhất.

    + Phải chủ động, mạnh dạn trong khi viết bài, vì không giống với nghị luận văn học, nói chung người viết có thể dựa vào bài học có sẵn, hoặc được thầy cô giáo hướng dẫn, bài nghị luận xã hội hoàn toàn buộc người viết phải chủ động đề xuất chính kiến của mình, có thể đúng hay chưa đúng, được số đông chấp nhận hay không chấp nhận, miễn là nó thuyết phục được người đọc bằng những lí lẽ xác đáng.

    Trước tiên, chúng ta phải làm quen với các dạng câu hỏi. Đây là một số ví dụ tiêu biểu:

    1. “Như một thứ a xít vô hình, thói vô trách nhiệm ở mỗi cá nhân có thể ăn mòn cả một xã hội”. Từ ý kiến trên, hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ về tinh thần trách nhiệm và thói vô trách nhiệm của con người trong cuộc sống hiện nay (đề thi ĐH khối C, năm 2010)
    2. “Đạo đức giả là một căn bệnh chết người luôn nấp sau bộ mặt hào nhoáng”. Từ ý kiến trên, hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ về sự nguy hại của đạo đức giả đối với cuộc sống con người (đề thi ĐH, khối D, năm 2010)
    3. Hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ về ý kiến sau: “Một người đã đánh mất niềm tin vào bản thân thì chắc chắn sẽ còn đánh mất thêm nhiều thứ quý giá khác nữa (đề thi ĐH, khối D, năm 2009)
    4. Trong một lần trả lời con gái thế nào là hạnh phúc, Mác nói: “Hạnh phúc là đấu tranh”. Anh/chị hiểu câu nói trên như thế nào?
    5. “Mọi lí thuyết đều màu xám, chỉ cây đời là mãi mãi xanh tươi” (Gớt). Anh/chị hiểu câu nói trên như thế nào”?
    6. Anh/chị hãy trình bày suy nghĩ của mình về “bệnh vô cảm” trong xã hội hiện nay.
    7. Viết bài tham gia cuộc vận động tìm giải pháp bảo đảm an toàn giao thông hiện nay.
    8. Anh/chị hãy trình bày suy nghĩ của mình về bệnh thành tích – một căn bệnh gây tác hại không nhỏ đối với sự phát triển của xã hội ta hiện nay. Có thể so sánh liên hệ với trường và lớp anh/ chị đang theo học.
    9. “Sách mở rộng trước mắt tôi những chân trời mới” (M. Gorki). Suy nghĩ của anh/chị về vấn đề trên.
    10. Nhà văn Nga Lev Tolstoi nói “Lí tưởng là ngọn đèn chỉ đường. Không có lí tưởng thì không có phương hướng kiên định, mà không có phương hướng thì không có cuộc sống”. Hãy nêu ý kiến của anh/chị về vấn đề trên.
    11. “Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình” (Tố Hữu). Dựa vào câu thơ trên, hãy viết một đoạn văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ riêng của anh/ chị..

    Những câu hỏi nghị luận xã hội như đã nêu ở trên, khá rộng mở. Chúng ta không thể có cách học nào tốt hơn là rèn luyện thật nhiều kĩ năng đọc hiểu văn bản, phải nắm vững và làm chủ được nhiều loại kiến thức, và phải biết phát huy tính chủ động trong suy nghĩ của mình.

    Trong hạn chế chương trình với dạng đề này, học sinh lại phải nắm được hai dạng chính đã được hạn chế:

    + Một là loại bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí (chẳng hạn câu ca từ của Trịnh Công Sơn, câu trả lời của Mác với con gái, câu nói của Gớt về vai trò quan trọng của thực tiễn so với lí thuyết…)

    + Hai là loại bài nghị luận về một hiện tượng đời sống (về căn bệnh vô cảm, bệnh thành tích, về thói quen sinh hoạt hàng ngày, về thái độ thi cử thiếu trung thực…).

    Cấu trúc của bài nghị luận

    Một bài nghị luận xã hội dù dung lượng không dài cũng vẫn phải đảm bảo cấu trúc của một bài làm văn, nghĩa là vẫn phải có mở đầu, thân bài và kết luận. Phần mở bài cần phải nêu được vấn đề trọng tâm mà đề ra yêu cầu. Phần thân bài, phải triển khai tiếp các luận điểm đã được nêu ra ở phần một, và cuối cùng, phần kết luận, người viết phải đưa ra tổng kết của cá nhân mình về vấn đề đã nêu, đúng hay sai? Bài học nào được rút ra cho cá nhân người viết? Tóm lại, với một bài nghị luận xã hội, bố cục chung của bài làm nên lần lượt triển khai theo các bước sau đây:

    • Ý 1: Nêu và giải thích ý kiến câu hỏi đề thi.
    • Ý 2: Bàn luận mở rộng về ý kiến câu hỏi đề thi.
    • Ý 3: Rút ra bài học nhận thức và hành động cho bản thân và cho mọi người.

    Một số ví dụ

    Ví dụ 1. Trình bày suy nghĩ về ý kiến: Kẻ cơ hội thì nôn nóng tạo ra thành tích, người chân chính thì kiên nhẫn tạo nên thành tựu (đề thi ĐH, khối C, 2012)

    Đáp án sơ lược 1. Giải thích ý kiến

    – Kẻ cơ hội là người lợi dụng thời cơ để mưu cầu lợi ích trước mắt, bất kể việc làm đúng hay sai; người chân chính là người luôn biết sống đúng với thực chất và phù hợp với những giá trị xã hội; thành tích là những kết quả được đánh giá tốt; thành tựu là những thành quả có ý nghĩa lớn, thường chỉ đạt được sau một thời kì phấn đấu lâu dài.

    – Về nội dung, đây là ý kiến chỉ ra sự đối lập về lối sống và cách hành xử trong công việc giữa loại người cơ hội và chân chính.

    2. Bàn luận về ý kiến

    * Kẻ cơ hội thì nôn nóng tạo ra thành tích

    – Do thói vụ lợi, bất chấp đúng sai nên trong công việc, kẻ cơ hội không cầu kết quả tốt, mà chỉ cầu được đánh giá tốt. Kẻ nào càng vụ lợi thì lại càng nôn nóng có được thành tích. Bởi thế, loại người này thường chỉ tạo ra những thành tích giả.

    – Về thực chất, cách hành xử ấy là lối sống giả dối khiến cho thật giả bất phân, làm băng hoại các giá trị về đạo đức; lối sống cơ hội này đã khiến bệnh thành tích lan tràn như hiện nay.

    * Người chân chính thì kiên nhẫn lập nên thành tựu

    – Coi trọng chất lượng thật, kết quả thật là đức tính của người chân chính. Bởi thế loại người này thường kiên nhẫn trong mọi công việc để tạo nên những kết quả thực sự, những thành quả có ý nghĩa lớn. Đối với họ chỉ có những thành quả thực sự mới tạo nên giá trị thực của con người, dù có khi phải trả giá đắt.

    – Về thực chất, cách hành xử ấy thuộc về lối sống chân thực, biểu hiện của những phẩm chất cao quý; giúp tạo nên những thành quả thực, những giá trị đích thực cho mình và cộng đồng, góp phần thúc đẩy xã hội tiến lên.

    3. Bài học về nhận thức và hành động

    – Cần nhận thức rõ đây là hai kiểu người đối lập nhau về nhân cách: một loại người tiêu cực thấp hèn cần phê phán, một mẫu người tích cực cao cả cần trân trọng.

    – Cần noi theo lối sống của những người chân chính, luôn coi trọng những kết quả thật và kiên nhẫn phấn đấu để lập nên những thành tựu; đồng thời lên án lối sống cơ hội, nôn nóng chạy theo thành tích giả.

    Ví dụ 2: “Cái chết không phải là điều mất mát lớn nhất trong cuộc đời. Sự mất mát lớn nhất là bạn để cho tâm hồn tàn lụi ngay khi còn sống” (Norman Kusin). Hãy viết một đoạn văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày những suy nghĩ của anh/chị về câu nói trên.

    Đáp án chi tiết

    – Cuộc sống với mỗi con người là điều quan trọng nhất. Ai trên đời này lại không yêu cuộc sống. Đó là điều không thể phủ nhận. Vì thế, cũng không thể phủ nhận, cái chết là nỗi bất hạnh lớn nhất với mỗi con người. Từ xưa tới nay, con người luôn tìm hiểu và tìm mọi cách chế ngự cái chết để giành sự sống.

    – Nói “cái chết không phải là điều mất mát lớn nhất trong cuộc đời. Sự mất mát lớn nhất là bạn để cho tâm hồn tàn lụi ngay khi còn sống” như Norman Kusin cũng không hề sai. Cuộc sống và cái chết là hai thái cực đối lập nhau dữ dội. Bởi thế càng yêu cuộc sống, con người lại càng sợ hãi trước cái chết. Nhưng, có một nỗi sợ lớn lao hơn cái chết, đó là khi còn sống, người ta để cho “tâm hồn mình tàn lụi”.

    2. Giải thích câu nói của Kusin

    – “Cái chết không phải là mất mát lớn nhất”: Để làm sâu sắc chân lí này, trước tiên cần phải khẳng định giá trị cuộc sống của con người, khẳng định cái chết với mỗi con người quả nhiên là sự mất mát lớn nhất. Chết là chấm dứt sự sống, chấm dứt sự tồn tại hữu hình của con người. Khi chết, người ta sẽ phải rời xa vĩnh viễn tất cả những gì yêu thương, gắn bó, không còn được tận hưởng niềm hạnh phúc, những thú vui, lao động, cống hiến và sáng tạo. “Mỗi con người chỉ được sống một lần…”, một nhà văn Nga đã từng nói như thế. Và như thế, cũng có nghĩa, một con người bình thường, không thể không coi cái chết là sự mất mát lớn nhất. Vậy nhưng, theo Norma Kusin, có một nỗi mất mát còn lớn hơn, đó là khi người ta “để cho tâm hồn tàn lụi khi còn sống”. Tại sao lại thế?

    – “Điều đáng sợ nhất là để tâm hồn tàn lụi ngay khi còn sống”: Cuộc sống của con người tồn tại ở hai dạng thể chất và tinh thần. Một cuộc sống có ý nghĩa phải là sự hài hoà giữa hai trạng thái trên. Một cuộc sống tinh thần đầy đủ đúng nghĩa là phải được thoả mãn đầy đủ về mặt tâm hồn. Nghĩa là phải có khát vọng lao động và sáng tạo; phải biết rung động trước cuộc đời, biết yêu và biết ghét, yêu cái đẹp và ghét những cái xấu xa; không để tâm hồn chai sạn, vô cảm trước mọi nỗi buồn vui của cuộc đời.

    3. Bàn luận mở rộng về câu nói của Kusin

    – Tại sao cái chết không phải là mất mát lớn nhất? – Cuộc sống với con người thật là quý giá. Nhưng không ai có thể vĩnh viễn trong cuộc đời này. Đó là quy luật. Tuy nhiên, cái chết với mỗi con người không có nghĩa là kết thúc, là dấu chấm hết. Bởi lẽ, có những cái chết vẫn để lại “muôn vàn tình thân yêu”; chết nhưng lại “gieo mầm sự sống”, để lại cho muôn đời sau sự ngưỡng mộ, kính yêu. Chị Võ Thị Sáu ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ, nhưng tên tuổi, tâm hồn, vẻ đẹp của chị vẫn mãi sống trong lòng nhân dân. Một cái chết như thế đâu phải là mất mát lớn nhất?

    – Sự tàn lụi trong tâm hồn khi còn sống mới là đáng sợ: Sự sống không đơn giản chỉ là ăn uống, hít thở, hưởng thụ, tận hưởng về mặt vật chất. Có những người sống trong cuộc đời chỉ coi trọng điều này. Rõ ràng, họ không chết về mặt thể chất. Thế nhưng, tâm hồn của họ trống rỗng; họ vô cảm, dửng dưng trước mọi nỗi buồn vui của cuộc đời; chỉ biết “yêu” bản thân mình, không ước mơ và khát vọng…Một cuộc sống như thế chính là “cái chết” về mặt tâm hồn. Cái chết này thậm chí còn đáng sợ hơn, khủng khiếp hơn “cái chết thể chất”. Đó là lí do khiến Trương Ba xin được “chết” khi Đế Thích vẫn cho ông sống, nhưng là sống trong vỏ bọc thể xác của một người khác, không phải là mình.

    4. Liên hệ với bản thân trong cuộc sống hiện nay

    Trong cuộc sống hiện nay, khi mà nhu cầu vật chất không còn là điều quá khó khăn, mỗi con người đều có thể dễ dàng thoả mãn nhu cầu vật chất của mình. Xã hội càng hiện đại, tiện nghi, con người lại càng dễ có nguy cơ sa vào lối sống hưởng thụ, vô cảm, lạnh lùng, mất phương hướng. Sống tích cực, lạc quan, chan hoà, yêu thương và chia sẻ chính là cách tốt nhất để con người không rơi vào tình trạng “tâm hồn tàn lụi”

    Ví dụ 3: “Trong thư gửi thầy hiệu trưởng của con trai mình, Tổng thống Mĩ chúng tôi Côn viết: “xin thầy hãy dạy cho cháu biết chấp nhận thi rớt còn vinh dự hơn gian lận khi thi cử”. Từ ý kiến trên, hãy viết một bài văn ngắn (không quá 600 từ) trình bày suy nghĩ của mình về đức tính trung thực trong khi thi và trong cuộc sống. (đề thi ĐH, khối C, năm 2009)

    Bài làm hoàn chỉnh của một học sinh trong kì thi ĐH năm 2009 (bài đạt điểm cao)

    1. Mở bài: Một trong những nét đẹp trong phẩm chất của con người từ xưa đến nay vẫn luôn được đề cao, đó là đức tính trung thực. Dù ở bất cứ hoàn cảnh nào, trong khi thi cũng như trong cuộc sống, sự trung thực, không gian dối luôn là một trong những yếu tố tiên quyết để làm nên phẩm chất của một con người, cũng như để đánh giá chính xác con người đó. Trong văn học dân gian từ ngàn xưa, không mấy ai còn xa lạ với những câu ngạn ngữ đề cao sự trung thực như: “Cây ngay không sợ chết đứng”, “khôn ngoan chẳng lọ thật thà” …Vậy nên sẽ không có gì đáng ngạc nhiên khi một người bố, Tổng thống A. Lin-côn, trong thư gửi thầy hiệu trưởng của con trai mình, đã viết: “Xin thầy hãy dạy cho cháu biết chấp nhận thi rớt còn vinh dự hơn gian lận khi thi…”

    Trước hết, chúng ta cần phải hiểu sự trung thực nghĩa là gì? Hẳn trong chúng ta không ai lại không biết rằng, trung thực là không gian dối, là ngay thẳng, là lời nói đi đôi với việc làm…Xét từ góc độ ngữ nghĩa, trung thực là một từ gốc Hán được cấu thành bởi hai thành tố: trung và thực (trung là ngay thẳng, thực là thật thà). Cũng có thể giải thích “trung” là một dạ một lòng, dù hoàn cảnh nào cũng không thay đổi (kiên trung) và “thực” là lẽ phải, là cái tồn tại thật, chân lí. Nói tóm lại cả hai yếu tố này đều khẳng định đề cao cái đẹp, cái thiên lương của con người trong cuộc sống. Một con người trung thực là một người luôn nói thật với lòng mình, không dối trá, không thay hình đổi dạng dù cuộc sống có khó khăn đến bao nhiêu…

    Sự trung thực của con người cũng giống như những thực thể tồn tại của thiên nhiên, như gió mưa và mặt trời, dù êm ả hay dữ dằn, nó vẫn muôn đời diễn ra như thế. Tương tự như vậy, sự gian lận trong thi cử và rộng hơn là trong cuộc sống con người vẫn thường diễn ra ở đó hoặc đây khiến con người không thể không lưu tâm. Cùng một xuất phát điểm như nhau, nhưng có những người kiên trì đi từng bước chậm rãi, khó nhọc vượt qua những chông gai, thử thách để đạt tới thành công, vậy nhưng trong cuộc chạy đua với một kẻ gian dối, họ vẫn là người thua cuộc. Tại sao sự gian lận là điều xấu xa ai ai cũng biết mà nó vẫn có cơ tồn tại trong mọi xã hội và ngay trong cả xã hội ta hiện nay? Có lẽ bởi, trong xã hội của bất cứ thời kì nào, đất nước nào cũng vẫn tồn tại những kẻ lười nhác, ngu dốt…nhưng lại luôn đòi hỏi một cuộc sống hơn người. Câu chuyện Lí Thông cướp công Thạch Sanh trong kho tàng truyện dân gian nước ta phải chăng vẫn luôn là một bài học nóng hổi. Nó là một tấm gương để tất cả mọi người phải biết tự răn mình và phải luôn nêu cao cảnh giác. Bởi lẽ, dù có gian dối, xảo trá bao nhiêu, Lí Thông cuối cùng rồi cũng bị trừng phạt. Người có công Thạch Sanh, cuối cùng vẫn cứ được tri ân. Đó là lí do khiến tôi luôn có niềm tin rằng, dù trong cuộc sống vẫn còn sự gian dối, nhưng “thành công” của việc làm gian dối như thế, sẽ không có cơ sở tồn tại lâu dài. Bởi như danh ngôn có câu “Những gì không phải của mình thì rồi nó cũng sẽ nhanh chóng ra đi”, ánh hào quang có được nhờ vào những việc làm gian dối, sớm muộn rồi cũng sẽ tắt. Bởi ánh hào quang ấy không được đốt lên bằng chính nội lực trái tim của mình…

    Trở lại lời “cầu xin” của Tổng thống Mĩ A. Lin-côn với thầy hiệu trưởng cho đứa con trai của mình, bản thân tôi là một học sinh đang đi thi, tôi thấy vô cùng thấm thía. Là người đứng đầu một đất nước, hẳn Lin-côn không khó khăn gì để trải “tấm thảm hoa” cho đứa con trai của mình, không phải chỉ những năm còn học trong trường, mà cả khi đã trưởng thành trong cuộc sống. Thậm chí ngay cả khi ông không trực tiếp yêu cầu điều đó, ở một nơi, sự trung thực không được đặt ở tiêu chí hàng đầu, những kẻ thiếu trung thực dưới quyền ông cũng có thể sẵn sàng làm điều đó. Chẳng phải vì họ quan tâm đến ông, mà đó là quan tâm đến chính họ. Một người biết nhìn xa trông rộng, biết vì cái đại thể mà quên đi lợi ích của riêng mình, tôi nghĩ rằng không ai lại không đồng cảm với vị Tổng thống Lin-côn. Thêm nữa, biết đâu, vị Tổng thống đáng kính ấy còn suy nghĩ sâu xa hơn, sự vấp ngã trong một kì thi nhỏ, sẽ ngáng chân con trai ông trong trong suốt cả cuộc đời. Trong cuộc đời con người còn có biết bao kì thi, mà không chỉ có những kì thi công khai, có ban giám khảo, phải cạnh tranh với nhiều người, mà còn có cả những kì thi của chỉ riêng một người, kì thi với chính bản thân mình, kì thi của lòng trung thực. Theo tôi hiểu, sự trung thực luôn nên là bài học đầu tiên cho tất cả mọi người ngay cả khi chưa bước chân đến trường. Bởi lẽ, suy cho cùng, so với cả một cuộc đời dài, thì con người ta trải qua thi cử với đúng nghĩa của nó chỉ trong một thời gian ngắn. Vì thế, bài học về sự trung thực vẫn cứ phải luôn được “nằm lòng” trong suốt cả cuộc đời. Trung thực trong cuộc sống là trung thực trong công việc, trong quan hệ với tất cả mọi người xung quanh và với cả chính bản thân mình. Tôi cũng nghĩ, đôi khi ta cũng nên hiểu, sự trung thực trong cuộc sống, giữ được nó thật khó lắm thay. Vì thế, không nên vận dụng nó một cách máy móc. Nhà văn Anh O. Henri trong truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng kể câu chuỵện một hoạ sĩ vì muốn cứu mạng sống một đứa bé tội nghiệp lâm bệnh nặng đã buộc phải vẽ chiếc lá xanh trên tường, để đánh lừa chiếc lá vẫn còn tươi. Người nghệ sĩ kia đã nói dối đứa bé, nhưng lại “trung thực” với lương tâm của mình, thì rõ ràng hành động cao đẹp của ông là đáng được ca ngợi. Cũng như thế, một người bác sĩ hay người thân của một bệnh nhân đang mang trong mình căn bệnh nan y, trung thực với bệnh nhân hay nói dối anh ta, nên lựa chọn giải pháp nào. Tôi nghĩ rằng, chắc ai cũng sẽ tự tìm cho mình câu trả lời đó. Và đó chính là điều khó khăn trong việc vận dụng sự trung thực của mọi xã hội, chứ không phải riêng ở nước Mĩ, hay ở nước ta.

    3. Kết luận: Nói tóm lại, trung thực trong thi cử cũng như trong cuộc sống là một đức tính cần được đề cao và ý thức rõ trong mỗi người chúng ta trong xã hội hiện nay. Một xã hội muốn tốt đẹp thì bản thân mỗi người phải là một cá thể đẹp. Để xoá bỏ hoàn toàn “bệnh thành tích”, những gian dối trong thi cử, trong công việc hàng ngày, trong cuộc sống, rất cần sự đấu tranh của số đông người, của tập thể cũng như ý thức tự giác của mỗi cá nhân. Sự thật sẽ luôn là sự thật cho dù nó vẫn luôn là một liều thuốc đắng với tất cả mọi người, kể cả vị Tổng thống Mĩ A. Lin-côn.

    Xem bài 4: Vận dụng khả năng đọc hiểu để viết bài nghị luận văn học

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Làm Bài Nghị Luận Xã Hội ( Full)
  • So Sánh Cách Viết Truyện Ngắn Và Viết Bài Luận
  • Mẫu Lời Mở Đầu Tiểu Luận Triết Học Ấn Tượng
  • Rèn Luyện Kĩ Năng Về Cách Làm Bài Văn Nghị Luận Văn Học Lớp 9 Có Hiệu Quả
  • Một Số Kỹ Năng Làm Bài Văn Nghị Luận Văn Học
  • Cách Làm Bài Văn Nghị Luận Xã Hội Lớp 12

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Viết Đoạn Văn Nghị Luận Xã Hội 200 Chữ
  • Cách Làm Văn Nghị Luận Lớp 12
  • Cách Làm Bài Văn Nghị Luận Xã Hội Đạt Điểm Cao
  • Gợi Ý Viết Văn Nghị Luận Xã Hội
  • Hướng Dẫn Gửi Mail Cho Khách Hàng
  • Cách làm bài văn nghị luận xã hội lớp 12 dạng đề tổng hợp hay nhất

    Đề bài nghị luận về vấn đề xã hội được rút ra từ một tác phẩm văn học. Mục đích của dạng đề này là kiểm tra kiến thức văn học, kiến thức về đời sống của học sinh. Từ một vấn đề xuất phát trong tác phẩm, học sinh cần bàn bạc rộng về vấn đề đó.

    Trong đề thi, teen 2K1 có thể gặp kiểu bài nghị luận về vấn đề xã hội trong tác phẩm đã được học hoặc chưa được học.

    Thông thường các tác phẩm văn học là bài thơ ngắn, câu truyện ngắn có nhiều ý nghĩa.

    Nội dung đề tài hướng đến là các vấn đề xã hội sâu sắc. Các vấn đề hay gặp như: Lòng yêu nước, ý chí nghị lực vươn lên trong cuộc sống, trách nhiệm sống của giới trẻ trong xã hội hiện tại…

    Các bước làm bài

    Cũng tương tự như cấu trúc bài văn nghị luận xã hội về tư tưởng đạo lí hay hiện tương đời sống, cấu trúc của bài văn nghị luận về vấn đề xã hội rút ra từ tác phẩm văn học cũng gồm 3 phần: Mở- thân- kết.

    1. Mở bài:

    – Dẫn dắt- giới thiệu về vấn đề từ tác phẩm văn học đã đặt ra trong đề bài.

    – Nêu vấn đề xã hội

    Từ tác phẩm văn học đặt ra vấn đề xã hội cần bàn bạc.

    2. Thân bài: – Giải thích vấn đề cần bàn bạc

    Trước hết teen 2K1 cần tóm tắc nội dung tác phẩm văn học.

    Lưu ý: Phần tóm tắt tác phẩm, nêu ý nghĩa sẽ chiếm khoảng 30% nội dung bài.

    – Bàn luận về vấn đề xã hội rút ra từ tác phẩm văn học.

    Đây là phần trọng tâm của bài. Ở phần này học sinh cần chú ý vấn đề chúng ta cần bàn bạc rơi vào bàn về một tư tưởng đạo lí hay hiện tượng đời sống.

    Tùy vào từng trường hợp mà chúng ta triển khai cho hợp lí.

    – Bài học về nhận thức, hành động

    Học sinh đưa ra bài học nhận thức đúng với vấn đề xã hội đang bàn luận.

    Sau đó rút ra bài học về hành động cho bản thân. Ở phần này các em cần nêu cụ thể hành động. Đừng chỉ đưa chung chung. Như vậy các em sẽ không đạt được điểm tối đa.

    3. Kết bài:

    – Kết thúc vấn đề

    Từ vấn đề xã hội rút ra từ tác phẩm văn học khẳng định vấn đề trong đề thi.

    Luyện cách làm bài văn nghị luận xã hội lớp 12 dạng đề tổng hợp với một số đề

    Một số đề văn nghị luận dạng đề tổng hợp

    Đề 1:

    Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam có câu :”Không thầy đố mày làm nên”.

    Qua câu tục ngữ trên anh (chị) hãy trình bày suy nghĩ của bản thân về vai trò của người thầy trong xã hội hiện tại.

    Đề 2:

    Bàn luận về cách nhìn nhận cuộc sống, con người trong xã hội qua “tác phẩm chiếc thuyền ngoài xa”.

    Đề 3:

    Trong tác phẩm “hồn Trương Ba, da hàng thịt”, nhân vật Trương Ba đã bày tỏ quan niệm sống qua câu “Không thể bên ngoài một đằng, bên trọng một nẻo được”. Anh (chị) hãy trình bày suy nghĩ về quan niệm trên.

    Không chỉ có cách làm bài văn nghị luận xã hội lớp 12 dạng đề tổng hợp, sách luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn này còn có hướng dẫn chi tiết làm tất cả các dạng bài trong đề thi.

    Năm 2022, các thí sinh thuộc đối tượng tuyển sinh có nguyện vọng theo học tại Trường Đại học FPT đủ điều kiện xét tuyển nếu đạt một trong các tiêu chí sau:

    1. Thuộc diện được tuyển thẳng theo Quy chế tuyển sinh Đại học, Cao đẳng hệ đại học chính quy của Bộ GD&ĐT

    2. Điểm các môn thi trong kỳ thi THPT 2022 thuộc Top50 THPT toàn quốc (theo số liệu Đại học FPT tổng hợp và công bố sau kỳ thi THPT 2022) và điểm theo khối xét tuyển đạt từ trung bình trở lên (15/30 điểm)

    3. Điểm học bạ thuộc Top50 THPT toàn quốc

    4. Đã tốt nghiệp Đại học

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cấu Trúc Của Một Luận Văn Tốt Nghiệp
  • Hướng Dẫn Trình Bày Khóa Luận Tốt Nghiệp Đại Học Hoàn Chỉnh
  • Cách Trình Bày Luận Văn Tốt Nghiệp Đại Học Hoàn Chỉnh Chi Tiết
  • Nghiên Cứu Khoa Học Trong Kinh Tế
  • Hướng Dẫn Cách Viết Đề Cương Nghiên Cứu Khoa Học Chi Tiết Nhất
  • Cách Làm Bài Văn Nghị Luận Xã Hội Đạt Điểm Cao

    --- Bài mới hơn ---

  • Gợi Ý Viết Văn Nghị Luận Xã Hội
  • Hướng Dẫn Gửi Mail Cho Khách Hàng
  • Email: 6 Cách Tạo Ấn Tượng Để Nhận Được Phản Hồi
  • Làm Thế Nào Để Cải Thiện Bài Thi Viết Aptis?
  • Cấu Trúc Của Bài Thi Aptis
  • Trong những năm gần đây đề thi Ngữ văn luôn theo hướng mở nhất là ở mảng câu hỏi nghị luận xã hội.

    Trong cấu trúc đề thi tuyển sinh ĐH-CĐ sắp tới, môn Ngữ văn luôn có một câu nghị luận xã hội (chiếm 3 điểm trong tổng số 10 điểm môn Ngữ văn).

    Đây là phần câu hỏi dễ “ăn điểm”, tuy nhiên, nhiều thí sinh vẫn chưa có kỹ năng làm tốt bài văn loại này. Kỳ thi tuyển sinh ĐH – CĐ đang tới gần, xin chia sẻ một số kinh nghiệm về cách học và làm bài văn nghị luận xã hội như sau:

    Cần nắm được dạng bài nghị luận xã hội

    Trong những năm gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo luôn ra đề thi tốt nghiệp môn Ngữ văn theo hướng mở nhằm đánh giá được năng lực và phân loại trình độ của học sinh, nhất là ở mảng câu hỏi nghị luận xã hội. Điều này cũng giúp học sinh có khả năng vận dụng được những hiểu biết thực tế vào bài viết của mình. Tuy nhiên, nhiều năm qua, vẫn có hiện tượng thí sinh làm xa đề, lạc đề, lan man,… Vì vậy, việc xác định kiểu dạng đề thi nghị luận là rất cần thiết, tránh cho thí sinh đi lạc hướng và làm sai đề. Muốn vậy, mỗi thí sinh phải đọc kỹ đề bài, chú ý những từ ngữ để nhận kiểu, dạng bài văn. Thông thường, ta dễ bắt gặp 2 kiểu, dạng đề đó là: nghị luận về một tư tưởng, đạo lý và nghị luận về một hiện tượng đời sống xã hội.

    Lập dàn ý theo bố cục của từng dạng đề nghị luận

    Sau khi xác định được kiểu, dạng đề nghị luận, chúng ta cần bắt tay nhanh vào việc lập dàn ý. Tuy nhiên, muốn lập dàn ý đầy đủ thì ta phải nắm được bố cục chung của từng kiểu bài văn nghị luận xã hội. Nghị luận về một tư tưởng, đạo lý thường đề cập tới những vấn đề về đạo đức, lối sống, quan điểm sống của các nhà tư tưởng lỗi lạc hay các danh nhân nổi tiếng. Dấu hiệu để nhận biết kiểu đề này thường là những câu nói trực tiếp để trong ngoặc kép của các nhà tư tưởng, các danh nhân nổi tiếng hay là một câu thơ, một ý kiến trích dẫn trong tác phẩm văn học, …

    uận về một hiện tượng đời sống xã hội thường đề cập tới nhiều vấn đề trong cuộc sống hằng ngày và mang tính chất thời sự, thu hút sự quan tâm của nhiều người như: gian lận trong thi cử, vấn đề tai nạn giao thông, bạo lực học đường, quan điểm về sống thử, văn hóa thần tượng,… Có thể nói, đây là dạng chung mà nhiều năm gần đây Bộ Giáo dục đã hướng đến để học sinh tiếp cận. Để làm dạng bài này đạt kết quả cao, đòi hỏi thí sinh phải có vốn hiểu biết nhất định về đời sống xã hội để vận dụng vào bài làm. Phần mở bài, cần giới thiệu hiện tượng đời sống cần nghị luận. Phần thân bài, cần triển khai các điểm sau: nêu thực trạng của hiện tượng đời sống: hệ quả tác động (tích cực, tiêu cực) của hiện tượng, thái độ của con người và xã hội đối với hiện tượng, lý giải nguyên nhân dẫn đến hiện tượng đó (nguyên nhân chủ quan, khách quan), đưa ra giải pháp để giải quyết hiện tượng đời sống. Phần kết bài cần khái quát lại vấn đề đang nghị luận đồng thời bày tỏ thái độ của bản thân về hiện tượng đời sống cần nghị luận.

    Tích lũy kiến thức xã hội và nắm bắt thông tin

    Một bài nghị luận xã hội thường có yêu cầu về số lượng câu chữ nên thí sinh cần phân phối lượng thời gian làm bài sao cho phù hợp, tránh viết dài dòng, sa vào kể lể, giải thích vấn đề không cần thiết. Trên cơ sở dàn ý, chúng ta cần luyện cách viết và trình bày sao cho ngắn gọn, mạch lạc, dễ hiểu và có tính thuyết phục cao.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Làm Văn Nghị Luận Lớp 12
  • Cách Viết Đoạn Văn Nghị Luận Xã Hội 200 Chữ
  • Cách Làm Bài Văn Nghị Luận Xã Hội Lớp 12
  • Cấu Trúc Của Một Luận Văn Tốt Nghiệp
  • Hướng Dẫn Trình Bày Khóa Luận Tốt Nghiệp Đại Học Hoàn Chỉnh
  • Cách Viết Mở Bài Và Kết Bài Hay Cho Bài Văn Nghị Luận

    --- Bài mới hơn ---

  • Giúp Học Sinh Lớp 9 Viết Đúng Và Hay Phần Mở Bài, Kết Bài Cho Bài Văn Nghị Luận Một Tác Phẩm Văn Học
  • Cách Viết Mở Bài , Thân Bài, Kết Bài Trong Văn Nghị Luận
  • Tả Một Người Bạn Thân Thiết Của Em
  • Giải Bài Tập Làm Văn: Luyện Tập Tả Cảnh (Dựng Đoạn Mở Bài, Kết Bài)
  • Hướng Dẫn Viết Kết Bài Ielts Writing Task 2 Từ Band 5 Đến Band 8
  • Bí kíp để mở bài cho bài văn nghị luận gây ấn tượng

    Trong suốt chương trình Ngữ văn THCS, dạng văn nghị luận được dàn trải đều từ lớp 7 cho đến lớp 9. Như vậy, có thể thấy được, phần kiến thức này yêu cầu học sinh học tập bài bản, trình tự và cũng chiếm điểm số rất cao trong các bài kiểm tra, bài thi.

    Học được kỹ năng viết văn nghị luận, cách để lên dàn ý và bố cục sao cho hay thì mới chỉ là phần khung, và để bài văn nghị luận hấp dẫn, trau chuốt và súc tích thì học sinh cần phải có cách để gây ấn tượng cho người đọc, người xem. Đó chính là vai trò của mở bài và kết bài trong một bài văn nghị luận. Tuy đây không phải phần trọng tâm nhưng lại là phần không thể thiếu, góp phần làm nổi bật vấn đề nghị luận.

    Để mở bài văn nghị luận hay, học sinh cần nắm được mở bài có những cách nào để viết mở bài cho bài văn nghị luận. Về cơ bản, có hai cách để mở bài: mở bài trực tiếp và mở bài gián tiếp.

    Mở bài trực tiếp

    Mở bài trực tiếp là đi thẳng vào vấn đề nghị luận. Học sinh sau khi tìm hiểu đề và tìm được vấn đề trọng tâm của bài nghị luận thì sẽ đưa vào bài, đặt vấn đề ngay. Phần mở bài trực tiếp này dễ làm, nhanh gọn, tự nhiên, dễ tiếp nhận tuy nhiên thường khô khan, cứng nhắc và thiếu hấp dẫn cho bài viết.

    Thầy Nguyễn Phi Hùng – Giáo viên môn Ngữ văn tại Gia sư Thanh Hóa lưu ý cho học sinh: ” Nếu đề bài yêu cầu nghị luận về một tác phẩm, đoạn thơ, đoạn văn thì cần nêu được tác giả, tên tác phẩm, trích dẫn được khổ thơ, đoạn thơ và giới thiệu được vấn đề nghị luận.

    Mở bài gián tiếp

    • Đi từ tác giả, tác phẩm đến vấn đề cần nghị luận.
    • Đi từ lý luận vào vấn đề cần nghị luận.
    • Dẫn dắt từ cuộc sống vào văn học.

    Bí kíp để viết phần kết bài cho bài văn nghị luận hay

    Kết bài chính là cách mà người viết khẳng định và truyền tải lại thông điệp cho người đọc, cũng là cách để gây những ấn tượng nhất định cho người đọc. Một kết bài lủng củng, thiếu chiều sâu hay một kết bài quá ngắn gọn chưa tóm lược được vấn đề chính là “điểm trừ” lớn cho bài văn nghị luận. Chính vì lẽ đó, học sinh cần nắm được cách để viết được một mở bài văn nghị luận đủ ý, ngắn gọn mà vẫn tạo ấn tượng cho người đọc.

    Có rất nhiều cách viết kết bài, tuy nhiên để viết được kết bài ấn tượng thì các em phải viết được kết bài đúng rồi mới bắt đầu viết hay. Kết bài phải đảm bảo được các nội dung cần thiết trong văn nghị luận và đưa vào bài được những yếu tố thu hút người đọc.” Cô Đỗ Khánh Phượng – Giáo viên môn Ngữ văn tại Gia sư Thanh Hóa chia sẻ.

    Có hai cách để học sinh kết bài, tương tự như phần mở bài có cách cơ bản và nâng cao, phần kết bài cũng chia ra: kết bài truyền thống và kết bài mở rộng, nâng cao. Trong đó:

    Kết bài truyền thống là kết bài đủ ý, ngắn gọn, dành cho học sinh không giỏi linh hoạt từ ngữ, hành văn và kĩ năng liên tưởng còn chưa cao. Học sinh làm theo 3 bước sau:

    Bước 1: Khẳng định lại vấn đề nghị luận.

    Bước 2: Đánh giá về thành công của tác giả.

    Bước 3: Đưa ra bài học để nâng cao quan điểm.

    Chỉ cần áp dụng đầy đủ ba bước này, học sinh đã có được phần kết bài đủ ý mà vẫn ngắn gọn, thuyết phục. Tuy nhiên, để gây ấn tượng nhất định cho người đọc, học sinh có thể kết bài theo cách thứ hai.

    Kết bài mở rộng, nâng cao với các bước như phần kết bài truyền thống nhưng có thêm hai kỹ năng quan trọng đó là:

    • Đưa lý luận vào phần kết bài.
    • Vận dụng kiến thức thực tế vào bài viết.

    Mở bài và kết bài trong bài văn nghị luận hay chính là cách để học sinh gây ấn tượng cho người đọc, từ đó đạt được điểm số cao hơn. Đồng thời, để rèn kĩ năng viết bài văn nghị luận cũng như học tốt môn Ngữ văn trong năm học này, học sinh nên chọn cho mình lộ trình học cũng như phương pháp học hiệu quả nhất.

    Nếu cần gấp phụ huynh có thể , , Chat zalo bằng cách ấn vào các nút trên Website này vào mọi khung giờ thời gian. Chúng tôi luôn hân hạnh được phục vụ các quý vị .

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cảm Nghĩ Của Em Sau Khi Đọc Truyện Sơn Tinh Thủy Tinh
  • Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Truyện Sơn Tinh Thủy Tinh
  • Mở Bài Kết Bài Tác Phẩm Vợ Chồng A Phủ Gây Ấn Tượng Ngay Khi Đọc
  • Phân Tích Nhân Vật Mị
  • Kết Bài Truyện Vợ Chồng A Phủ
  • Các Cách Viết Kết Bài Văn Nghị Luận

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Viết Phần Mở Bài Trong Bài Văn Nghị Luận
  • Kỹ Năng Làm Bài Văn Tự Sự Lớp 10.
  • Làm Thế Nào Để Viết Bài Văn Tự Sự Hay
  • Gia Sư Văn Hướng Dẫn Học Sinh Thcs Làm Bài Văn Tự Sự
  • Viết Lời Chia Buồn Tang Lễ Bằng Tiếng Anh Chuẩn Như Người Nước Ngoài
  • 1. Kết bài theo lối điểm nhãn. Ví dụ: Phân tích bài thơ Ông Đồ của Vũ Đình Liên.

    Kết bài 1: Cùng với các nhà thơ khác trong phong trào Thơ mới, Vũ Đình Liên và bài thơ Ông Đồ của mình đã đóng góp một giọng điệu thơ mới mẻ, mang giá trị nhân đạo và ý nghĩa nhân bản sâu sắc.

    Kết bài 2: Ông Đồ của Vũ Đình Liên quả là một giọt nước trong biển cả, một nét đơn sơ nhỏ bé giữa những thành tựu văn học. Nhưng dẫu hoà trong một biển, “giọt nước” của nhà thơ Vũ Đình Liên vẫn mặn mà nồng thắm, âm vang nhịp đập thuỷ triều… Bài thơ nói về số phận con người, bài thơ nhắc nhở ta trân quý những giá trị đẹp đẽ của con người để không phải luyến tiếc, hối hận.

    Kết bài 2: Tìm hiểu bài thơ Ngắm trăng của Hồ Chí Minh, chúng ta có thể hoàn toàn chia sẻ với những cảm xúc chân thành của nhà thơ Tố Hữu khi viết về những tháng ngày Bác bị giam cầm:

    Lại thương nỗi đoạ đày thân Bác

    Mười bốn trăng tê tái gông cùm

    Ôi chân yếu, mắt mờ, tóc bạc

    Mà thơ bay… cánh hạc ung dung

    Kết bài 3: Xưa nay nói về trăng đã có bao lời hay ý đẹp. Trong cuộc sống lao động nếu có nắng lửa mưa dầm thì cũng có trăng thanh gió mát. Hình như nhân loại muốn giử gắm cho trăng một phần hạnh phúc, ước mơ của cuộc đời. Thế nên trăng đến với con người như kẻ tri âm. Dẫu chân tay mang xiềng xích, dẫu chịu cảnh ngục tù vẫn an nhiên mà ngắm, mà nhìn, mà trò chuyện với trăng bằng im lặng. Cái lạ, cái hay của bài thơ là ở đó. Sức mạnh và vẻ đẹp tâm hồn Bác là ở đó.

    3. Kết bài theo lối “Đầu cuối tương ứng” – Kết bài ứng với mở bài. Ví dụ: Lá Đỏ – một bài thơ đáng yêu, đáng nhớ.

    Mở bài: Từ hiện thực khốc liệt của cuộc chiến tranh chống Mỹ vẫn còn lưu lại đó trong tâm trí người đọc những vẫn thơ của một thời lửa cháy. Làm sao không nhớ, không yêu một bài thơ như thế:

    “Gặp em trên cao lộng gió

    … Em vẫy cười đôi mắt trong.”

    Kết bài: Thơ hay là thứ thơ làm cho người ta nghĩ đến tình người, nghĩ về hy vọng và sự sống. Thơ nói riêng, văn học nói chung, trở thành cần thiết cho con người là vì vậy. Làm sao không nhớ, không yêu một bài thơ như Lá đỏ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top 10 Bài Văn Về Mẹ Hay Và Ý Nghĩa Nhất
  • Cách Ẩn Link Tiếp Thị Liên Kết Trong WordPress Sử Dụng Url Shortener Pro
  • Top 3 Cách Làm Tiếp Thị Liên Kết Trên Facebook Hiệu Quả 2022
  • Tiếp Thị Liên Kết Là Gì? Hướng Dẫn Kiếm Tiền Với Tiếp Thị Liên Kết
  • Cách Viết Bài Review Chuẩn Để Kiếm Tiền Với Tiếp Thị Liên Kết
  • Cách Làm Bài Nghị Luận Xã Hội ( Full)

    --- Bài mới hơn ---

  • Môn Ngữ Văn: Viết Bài Nghị Luận Xã Hội
  • Cấu Trúc Bài Tiểu Luận Như Thế Nào Được Gọi Là Hoàn Chỉnh?
  • Cách Viết Bài Luận Thu Hút Vào Các Trường Hàng Đầu Nước Mỹ
  • 100 Chủ Đề Bài Luận Thuyết Phục
  • Luyện Viết Tiếng Pháp Thôi!
  • Bí kíp làm phần Nghị luận xã hội đạt điểm tuyệt đối trong đề thi Ngữ văn

    Phần 1 : LÍ THUYẾT NGHỊ LUẬN XÃ HỘI

    NGHỊ LUẬN VỀ TƯ TƯỞNG ĐẠO LÍ

    • Đây là dạng đề nào?
    • Đề đặt ra vấn đề gì cần giải quyết?

    Có thể viết lại rõ ràng luận đề ra giấy.

    Có 2 dạng đề:

    • Đề nổi, học sinh dễ dàng nhận ra và gạch dưới luận đề trong đề bài.
    • Đề chìm, học sinh cần đọc kĩ đề bài, dựa vày ý nghĩa câu nói, câu chuyện , văn bản được trích dẫn mà xác định luận đề.

    Ví dụ minh hoạ:

    Dạng đề trong đó tư tương đạo lí được nói đến một cách trực tiếp.

    Ví dụ : bàn về sự tự tin, lòng tự trọng của con người trong cuộc sống, tinh thần tự hào dân tộc …

    Dạng đề trong đó tưởng đạo lí được nói tới một cách gián tiếp.

    Ví dụ 1:

    Đề bài : ” Sứ mạng của người mẹ không phải là làm chỗ dựa cho con cái mà là làm cho chỗ dựa ấy trở nên không cần thiết” (B.Babbles)

    Hãy trình bày suy nghĩ của anh/ chị về ý kiến trên

    Hướng dẫn phân tích đề : Ý kiến trên có các từ khoá trọng tâm cần giải thích :

    • “Sứ mạng” : Vai trò lớn lao, cao cả của cha mẹ trong việc nuôi dạy con cái.
    • “Người mẹ”: Người sinh ra con cái , rộng hơn đó chính là mái ấm gia đình.
    • ” Chỗ dựa cho con cái”: nơi che chở , yêu thương , là nơi con cái có thể nương tựa.

    NGHỊ LUẬN VỀ HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG

    KHÁI QUÁT

    Để làm bài văn nghị luận đạt điểm cao, trước hết học sinh cần nhận diện rõ đề thuộc kiểu bài nào để có cách làm bài phù hợp. Kiểu bài nghị luận về hiện tượng đời sống thường đề cập đến những vấn đề của đời sống xã hội, những hiện tượng nổi bật, tạo được sự chú ý và có tác động đến đời sống con người, những vấn đề chính trị, tư tưởng, văn hoá, đạo đức,…

    Yêu cầu của kiểu bài này là học sinh cần làm rõ hiện tượng đời sống ( qua việc miêu tả, phân tích nguyên nhân, các khía cạnh của hiện tượng…) từ đó thể hiện thái độ đánh giá của bản thân cũng như đề xuất ý kiến, giải pháp trước hiện tượng đời sống. Học sinh cần có cách viết linh hoạt theo yêu cầu của đề bài, tránh làm bài máy móc hoặc chung chung. Ngoài việc trang bị cho mình những kỹ năng làm bài, học sinh cần tích lũy những vốn hiểu biết thực tế về đời sống xã hội. Thời gian gần đây, đề Nghị luận xã hội thường đề cập đến những vấn đề thời sự nổi bật trong năm, Ví dụ :

    +Vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm

    + Ô nhiễm môi trường, sự nóng lên của trái đất, nạn phá rừng, thiên tai lũ lụt…

    + Bạo hành gia đình, bạo lực học đường, tai nạn giao thông…

    + Tiêu cực trong thi cử, bệnh thành tích trong giáo dục, hiện tượng chảy máu chất xám…

    + Phong trào tiếp sức mùa thi, giúp đỡ đồng bào lũ lụt, tấm gương người tốt, việc tốt, nếp sống đẹp…

    Các bước làm bài :

    Bước 1: Miêu tả hiện tượng được đề cập đến trong bài.

    + Giải thích ( nếu trong đề bài có khái niệm, thuật ngữ hoặc các ẩn dụ, hoán dụ, so sánh…)cần làm rõ để đưa ra vấn đề bàn luận.

    Ví dụ : giải thích thế nào là ô nhiễm môi trường? thế nào là bệnh vô cảm?…

    + Chỉ ra thực trạng ( biểu hiện của thực trạng)

    Bước 2: Phân tích tác hại, các mặt đúng – sai, lợi – hại của vấn đề.

    • Phân tích tác dụng của vấn đề nếu là hiện tượng tích cực.
    • Phân tích tác hại của vấn đề nếu là hiện tượng tiêu cực.
    • Phân tích cả hai mặt tích cực và hạn chế nếu đề có cả hai mặt.

    Tác hại :

    • Đối với mỗi cá nhân ( anh hưởng sức khoẻ, kinh tế, danh dự, hạnh phúc gia đình, ảnh hưởng tâm lí….)
    • Đối với cộng đồng, xã hội
    • Đối với môi trường

    Bước 3: Chỉ ra nguyên nhân ( khách quan và chủ quan)

    • Khách quan : Do môi trường xung quanh, do trào lưu, do gia đình, nhà trường, do các nhân tố bên ngoài tác động,…
    • Chủ quan: Do ý thức , tâm lí, tính cách, ….của mỗi người
    • Nguyên nhân khách quan: Bệnh ảo tưởng đối với một bộ phận người trẻ là có nguyên nhân. Trước tiên, đó là tác dụng ngược của mạng xã hội
    • Nguyên nhân chủ quan:

    Nguyên nhân tâm lý: Nhiều bạn trẻ thích thể hiện bản thân , hành vi của họ là để bù đắp cho sự thiếu tự tin ngoài thực tế. Nói cách khác, họ muốn được yêu thương, ngưỡng mộ, chấp nhận thông qua việc đăng những ảnh mà họ cho rằng sẽ khiến họ trở nên hấp dẫn hơn, và theo kịp thời đại.

    Suy cho cùng, sống “ảo” là hệ quả của việc sống thiếu bản lĩnh, thói quen mong hưởng thụ nhiều hơn cố gắng.

    Học sinh có thể lấy dẫn chứng để chứng minh cho luận điểm trên

    Phần 2 : Bộ đề Nghị luận xã hội có đáp án và bài văn mẫu

    Bản quyền bài viết này thuộc về http://vanhay.edu.vn. Mọi hành động sử dụng nội dung web xin vui lòng ghi rõ nguồn

    --- Bài cũ hơn ---

  • So Sánh Cách Viết Truyện Ngắn Và Viết Bài Luận
  • Mẫu Lời Mở Đầu Tiểu Luận Triết Học Ấn Tượng
  • Rèn Luyện Kĩ Năng Về Cách Làm Bài Văn Nghị Luận Văn Học Lớp 9 Có Hiệu Quả
  • Một Số Kỹ Năng Làm Bài Văn Nghị Luận Văn Học
  • Cách Lập Dàn Ý Cho Bài Luận Tranh Luận Một Vấn Đề
  • Cách Làm Bài Văn Nghị Luận Xã Hội Lớp 9 Đạt Điểm Tối Đa

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Viết Luận Văn Thạc Sĩ Kinh Tế
  • Tư Vấn Hướng Dẫn Viết Luận Văn Cao Học Kinh Tế Giá Rẻ Tp Hcm
  • Cách Viết Lý Do Chọn Đề Tài Luận Văn Kinh Tế, Kế Toán
  • Cách Viết Lý Do Chọn Đề Tài Cho Luận Văn Ngành Kinh Tế, Kế Toán
  • Hướng Dẫn Cách Làm Đề Cương Luận Văn Thạc Sĩ Kinh Tế Chi Tiết
  • Có thể nói rằng văn nghị luận là kiểu văn bản khá quen thuộc đối với học sinh lớp 9. Tuy nhiên đó chỉ là cái tên quen thuộc nhưng thực chất ở nhiều học sinh vẫn chưa nắm rõ được cách làm 2 dạng văn nghị luận xã hội lớp 9: Văn nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học & văn nghị luận xã hội dưới dạng một câu chuyện.

    Cách làm 2 dạng đề văn nghị luận xã hội lớp 9

    1. Văn nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học

    a) Đặc điểm cơ bản của dạng văn nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học.

    Đây là dạng văn khá khó đối với học sinh lớp 9 bởi sự tích hợp giữa vấn đề xã hội và vấn đề văn học. Điều đó đòi hỏi học sinh phải có kiến thức tổng hợp về cả hai mảng kiến thức là văn học và xã hội. Tuy nhiên việc có kiến thức vẫn chưa đủ vì học sinh cần phải có thêm các kỹ năng phân tích văn bản và phân tích, đánh giá, lí giải các vấn đề xã hội nữa. Đề bài đặt ra trong dạng đề này thường là các vấn đề xã hội sâu sắc mang ý nghĩa nhân văn nào đó dựa trên các tác phẩm văn học (vấn đề đó có thể có trong chương trình học hoặc chưa được học).

    Đề 1: Từ nhân vật Phương Định trong truyện ngắn “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê em có suy nghĩ gì về trách nhiệm của thanh niên hiện nay trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước?

    Đề 2: Nhân vật anh thanh niên trong truyện ngắn “Lặng lẽ Sapa” của Nguyễn Thành Long là người có tinh thần khiêm tốn. Em có suy nghĩ gì về lòng khiêm tốn của giới trẻ hiện nay?

    Đề 3: Trong bài “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải tác giả đã thể hiện ước nguyện chân thành muốn cống hiến một phần công sức của mình vào mùa xuân của đất nước. Em có suy nghĩ gì về lí tưởng sống của giới trẻ hiện nay?

    b) Cách làm bài văn nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học.

    – Giới thiệu được vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học

    – Nêu vấn đề cần nghị luận

    Vì đây là dạng đề tích hợp nên vấn đề xã hội ở đây có thể là tư tưởng đạo lí hoặc hiện tượng đời sống. Nên tùy theo từng dạng đề mà áp dụng các thao tác nghị luận khác nhau. Tuy nhiên đều phải làm rõ hai phần trọng tâm cơ bản: giải thích và rút ra vấn đề đặt ra trong tác phẩm, nghị luận về một vấn đề xã hội.

    Phần 1: Giải thích và rút ra vấn đề đặt ra trong tác phẩm văn học

    Trước tiên phải phân tích làm rõ được vấn đề đặt ra trong tác phẩm văn học ở đây là gì? Từ đó mới có thể xác định được nội dung chính và hướng làm bài cần thiết ở phần 2.

    Ví dụ: Từ nhân vật anh thanh niên trong truyện ngắn “Lặng lẽ Sapa” của Nguyễn Thành Long em có suy nghĩ gì về trách nhiệm của thanh niên hiện nay trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

    Chúng ta cần phải xác định được nhân vật anh thanh niên có những phẩm chất gì? Sau đó mới so sánh với giới trẻ hiện nay. Cụ thể anh thanh niên là người có lí tưởng sống cao đẹp, yêu nghề và có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc, khiêm tốn, tinh thần lạc quan yêu đời, quan tâm, chu đáo, hiếu khách. Những phẩm chất của anh thanh niên liệu giới trẻ có không? Thực trạng của giới trẻ hiện nay là gì?

    Từ phần một chuyển sang phần hai, học sinh cần có một câu chuyển ý phù hợp, đặc sắc.

    Khi đã xác định được vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học ở phần 1 học sinh chuyển sang phần 2, ở phần này các em làm tương tự như cách làm văn nghị luận về một tư tưởng đạo lí và nghị luận về một hiện tượng đời sống.

    Nếu vấn đề xã hội xác định là tư tưởng đạo lí thì các em sẽ vận dụng theo các bước.

    – Giải thích khái niệm

    – Phân tích, lí giải

    – Bài học nhận thức và liên hệ bản thân.

    Nếu vấn đề xã hội xác định là hiện tượng đời sống thì các em sẽ vận dụng theo các bước.

    – Thực trạng (tích cực, tiêu cực)

    -Nguyên nhân

    -Liên hệ bản thân.

    Ví dụ: Từ đức tính khiêm tốn của nhân vật anh thanh niên trong truyện ngắn “Lặng lẽ Sapa” của Nguyễn Thành Long em có suy nghĩ gì về tính khiêm tốn của giới trẻ hiện nay?

    2. Nghị luận xã hội dưới dạng một câu chuyện

    Gia sư Văn hướng dẫn học sinh cách làm văn nghị luận xã hội

    a) Đặc điểm cơ bản của văn nghị luận xã hội dưới dạng câu chuyện

    Đây là dạng nghị luận xã hội khó và hay dùng để kiểm tra kiến thức năng lực của học sinh giỏi hoặc thi chuyên. Đề bài thường dưới dạng một câu chuyện mang một vấn đề, một triết lí xã hội sâu sắc hướng tới người đọc. Ở dạng đề này học sinh phải có kỹ năng phân tích, đánh giá và cảm nhận để có thể tìm ra được chính xác nội dung câu chuyện hướng tới là gì? Từ đó mới có thể định hướng cho mình cách làm bài trong toàn bài.

    Quê mình mùa lũ, trời mưa nước ngập trắng đường. Hồi đó con chập chững vào lớp một, ngày ngày vượt hai cây số đến trường. Có bữa mưa giăng đầy trời, nước ngập đến gối. Con nhìn ra rơm rớm. Mẹ bảo:

    – Thôi hôm nay để mẹ cõng.

    Mẹ cắp chiếc nón lá, cõng con trên lưng vượt qua dòng nước.

    Con đậu Đại học, ra trường lấy được cô vợ thành đạt. Cuối tuần con đưa mẹ đến siêu thị.

    – Thôi đường ngược chiều rồi. Mẹ chịu khó tự vào. Tiền nè. Con có việc phải đi.

    (Theo nguồn Internet)

    Hãy trình bày suy nghĩ của em về câu chuyện trên.

    Titanic là con tàu lớn nhất thế giới vào thời điểm nó ra đời (1912). Với kĩ thuật chế tạo hiện đại nhất thời ấy, Titanic được coi là con tàu “không thể chìm”. Tuy nhiên trong lần ra khơi đầu tiên, con tàu này đã va vào băng và bị chìm khiến hơn 1.500 người thiệt mạng.

    Trong bức ảnh thứ nhất, người ta thấy chiếc tàu bị vỡ khi va vào tảng băng, bên dưới có dòng chữ: Sự yếu đuối của con người và sức mạnh của thiên nhiên.

    Còn bức ảnh thứ hai, người ta lại thấy có một người đàn ông nhường chiếc phao cứu sinh của mình cho người đàn bà đang bế con trên tay. Lần này, bức ảnh được chú thích bằng dòng chữ: Sự yếu đuối của thiên nhiên và sức mạnh của con người.

    (Dực theo sách Phép màu nhiệm của đời, tên chuyện do người ra đề đặt)

    Em có suy nghĩ gì về những dòng chữ chú thích cho 2 bức ảnh nói trên?

    b) Cách làm bài nghị luận xã hội dưới dạng một câu chuyện

    Ở dạng đề này cũng giống như nghị luận xã hội về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học, vấn đề xã hội ở đây có thể là tư tưởng đạo lí hoặc hiện tượng đời sống. Dạng đề làm tuân thủ theo hai bước quan trọng là: Phân tích nêu ngắn gọn nội dung câu chuyện, thực hiện thao tác nghị luận giống tư tưởng đạo lí, hiện tượng đời sông.

    – Nêu vấn đề cần bàn luận

    Phần 1: Phân tích văn tắt nội dung câu chuyện

    Phần 2: Thao tác nghị luận giống như tư tưởng đạo lí, hiện tượng đời sông.

    Tùy thuộc vào từng dạng đề các em làm tương tự giống như trên.

    Đây là hai dạng đề khó nhất trong chương trình làm văn 9, Đội ngũ gia sư Văn chúng tôi hi vọng những kiến thức về đặc điểm và cách làm hai dạng đề trên có thể giúp các em viết một bài văn trôi chảy, mượt mà để đạt điểm tối đa. Chúc các em thành công.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ôn Thi Vào 10: Cách Viết Đoạn Văn Nghị Luận Văn Học Lớp 9
  • Hướng Dẫn Chi Tiết Cách Viết Cơ Sở Lý Luận Trong Làm Luận Văn
  • Đề Cương Luận Văn Tốt Nghiệp: Cách Viết Và Mẫu Chi Tiết
  • Mẫu Đề Cương Luận Văn Thạc Sỹ Quản Trị Kinh Doanh Chi Tiết
  • 55 Đề Tài Luận Văn Thạc Sĩ Quản Trị Kinh Doanh Đạt Điểm Cao
  • Cách Làm Bài Văn Nghị Luận Xã Hội Về Một Hiện Tượng Đời Sống

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Làm Bài Luận Writing Essay Của Pte – Pte Online
  • Thực Tiễn & Cơ Sở Lý Luận Báo Chí: Xã Luận Là Gì? Cách Viết Một Bài Xã Luận
  • Cách Viết Cv Tiếng Nhật Khiến Ntd “Nhìn 1 Phát Muốn Tuyển Luôn”
  • Nộp Cv Qua Email Thế Nào Để Không Bị Nhà Tuyển Dụng “Ngó Lơ”?
  • Hướng Dẫn Viết Cv Xin Học Bổng Du Học Chuẩn — Halo.edu.vn
  • Các loại NLXH về một hiện tượng đời sống

    Nghị luận xã hội về 1 hiện tượng đời sống gồm có 3 loại nhỏ:

    – Trình bày suy nghĩ về 1 hiện tượng đời sống trong xã hội: ý chí, nghị lực, tình yêu thương …

    – Trình bày suy nghĩ về từ 2 hiện tượng đời sống trở lên như: cho và nhận, thành và bại… Đối với loại này cần xem xét quan hệ giữa 2 hiện tượng.

    – Từ 1 hiện tượng thiên nhiên, trình bày suy nghĩ về đời sống xã hội như: Giữa một vùng sỏi đá khô cằn, cây hoa dại vẫn mọc lên và nở những đóa hoa thật đẹp.. Suy nghĩ của anh chị về hiện tượng trên.

     Sơ đồ tư duy hệ thống các bước làm bài NLXH về một hiện tượng đời sống

    Công thức viết bài NLXH về một hiện tượng đời sống

    1.     Giải thích hiện tượng đời sống: 0,5 điểm – viết khoảng 5 dòng

    Khi giải thích cần lưu ý

    – Bám sát hiện tượng đời sống mà đề yêu cầu, tránh suy diễn chủ quan, tùy tiện.

    – Làm nổi bật được vấn đề cần bàn bạc trong bài.

    2.     Bàn luận về hiện tượng đời sống: 1 điểm – viết khoảng 10 – 15 dòng

    – Phân tích các mặt, các biểu hiện của sự việc, hiện tượng đời sống cần bàn luận

    – Nêu đánh giá, nhận định về mặt đúng – sai, lợi – hại, lí giải mặt tích cực cũng như hạn chế của sự việc, hiện tượng ấy, bày tỏ thái độ đồng tình, biểu dương hay lên án, phê phán.

    – Chỉ ra nguyên nhân của sự việc, hiện tượng ấy, nêu phương hướng khắc phục mặt tiêu cực, phát huy mặt tích cực của sự việc, hiện tượng.

    3.     Rút ra bài học nhận thức và hành động trong cuộc sống: 0,5 điểm (khoảng 5 dòng)

    Liên hệ với bản thân và thực tế đời sống, rút ra bài học nhận thức và hành động (Đề xuất bài học về cách sống, cách ứng xử nói chung và đối với bản thân nói riêng).

    – Sửa lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp

    – Chú ý liên kết mạch lạc, giữa các câu trong đoạn văn và giữa các phần trong bài văn.

    (Tài liệu được trích trong sách Bí quyết chinh phục Ngữ văn bằng sơ đồ tư duy của tác giả Phạm Hữu Cường)

    --- Bài cũ hơn ---

  • 219 Đề Tài Tiểu Luận Luật Hình Sự, Báo Cáo Thực Tập Luật Hình Sự.
  • 5 Mẹo Đạt Điểm Số Cao Bài Luận Sat
  • Cách Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Điểm Cao
  • Hướng Dẫn Trình Bày Bài Viết Tham Luận Hội Thảo Khoa Học – Viện Nghiên Cứu Pháp Luật Phía Nam
  • Viết Học Thuật Là Gì – Từ Và Những Cụm Từ Cần Tránh Trong Viết Học Thuật
  • Gợi Ý Viết Văn Nghị Luận Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Gửi Mail Cho Khách Hàng
  • Email: 6 Cách Tạo Ấn Tượng Để Nhận Được Phản Hồi
  • Làm Thế Nào Để Cải Thiện Bài Thi Viết Aptis?
  • Cấu Trúc Của Bài Thi Aptis
  • Bài Thi Aptis Là Gì? Cấu Trúc Và Cách Tính Điểm Của Bài Thi Aptis
  • Dạng đề nghị luận xã hội là dạng đề kiểm tra về kỹ năng, vốn sống, mức độ hiểu biết của học sinh về xã hội để các em nêu lên những suy nghĩ về cuộc sống, về tâm tư tình cảm nói chung nhằm giáo dục, rèn luyện nhân cách cho học sinh. Nhìn chung, dạng đề văn nghị luận xã hội thường tập trung vào một số vấn đề cơ bản mang giá trị đạo lý làm người, những hiện tượng thường xảy ra trong xã hội mà qua đó trở thành kinh nghiệm sống cho mọi người.

    I. CÁC DẠNG ĐỀ NGHỊ LUẬN XÃ HỘI THƯỜNG GẶP 1. Nghị luận về một hiện tượng đời sống

    Hiện tượng có tác động tích cực đến suy nghĩ ( tiếp sức mùa thi, hiến máu nhân đạo…).

    – Hiện tượng có tác động tiêu cực ( bạo lực học đường, tai nạn giao thông…).

    – Nghị luận về một mẩu tin tức báo chí ( hình thức cho một đoạn trích, mẩu tin trên báo… Rút ra vấn đề nghị luận).

    2. Nghị luận về một tư tưởng đạo lý

    Tư tưởng mang tính nhân văn, đạo đức ( lòng dũng cảm, khoan dung, ý chí nghị lực…).

    – Tư tưởng phản nhân văn ( ích kỷ, vô cảm, thù hận, dối trá …).

    – Nghị luận về hai mặt tốt xấu trong một vấn đề.

    – Vấn đề có tính chất đối thoại, bàn luận, trao đổi.

    – Vấn đề đặt ra trong mẩu truyện nhỏ hoặc đoạn thơ.

    II. NHỮNG VẤN ĐỀ LƯU Ý KHI LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN 1. Đọc kỹ đề

    Mục đích: Hiểu rõ yêu cầu của đề, phân biệt được tư tưởng đạo lý hay hiện tượng đời sống.

    – Phương pháp xác định: Đọc kỹ đề, gạch chân dưới từ, cụm từ quan trọng để giải thích và xác lập luận điểm cho toàn bài. Từ đó có định hướng đúng mà viết bài cho tốt.

    2. Lập dàn ý

    Giúp ta trình bày văn bản khoa học, có cấu trúc chặt chẽ, hợp logic.

    – Kiểm soát được hệ thống ý, lập luận chặt chẽ, mạch lạc.

    – Chủ động dung lượng các luận điểm phù hợp, tránh lan man, dài dòng.

    3. Dẫn chứng phù hợp

    Không lấy những dẫn chứng chung chung ( không có người, nội dung, sự việc cụ thể) sẽ không tốt cho bài làm.

    – Dẫn chứng phải có tính thực tế và thuyết phục ( người thật, việc thật).

    – Đưa dẫn chứng phải thật khéo léo và phù hợp ( tuyệt đối không kể lể dài dòng).

    3. Lập luận chặt chẽ, lời văn cô động, giàu sức thuyết phục

    Lời văn, câu văn, đoạn văn viết phải cô đúc, ngắn gọn.

    – Lập luận phải chặt chẽ.

    – Cảm xúc trong sáng, lành mạnh.

    – Để bài văn thấu tình đạt lý thì phải thường xuyên tạo lối viết song song ( đồng tình, không đồng tình; ngợi ca, phản bác …).

    4. Bài học nhận thức và hành động

    Sau khi phân tích, chứng minh, bàn luận… thì phải rút ra cho mình bài học.

    – Thường bài học cho bản thân bao giờ cũng gắn liền với rèn luyện nhân cách cao đẹp, đấu tranh loại bỏ những thói xấu ra khỏi bản thân, học tập lối sống…

    5. Độ dài cần phù hợp với yêu cầu đề bài

    Khi đọc đề cần chú ý yêu cầu đề ( hình thức bài làm là đoạn văn hay bài văn, bao nhiêu câu, bao nhiêu chữ …) từ đó sắp xếp ý tạo thành bài văn hoàn chỉnh.

    III. CẤU TRÚC ĐỀ VÀ CÁC DẠNG ĐỀ CỤ THỂ 1. Nghị luận về tư tưởng đạo lý

    1.1 Khái niệm: Nghị luận về một tư tưởng, đạo lý là bàn về một vấn đề thuộc lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, quan điểm nhân sinh ( như các vấn đề về nhận thức; về tâm hồn nhân cách; về các quan hệ gia đình xã hội, cách ứng xử; lối sống của con người trong xã hội …).

    a. Mở bài

    Giới thiệu khái quát tư tưởng, đạo lý cần nghị luận.

    – Nêu ý chính hoặc câu nói về tư tưởng, đạo lý mà đề bài đưa ra.

    – Luận điểm 1: Giải thích yêu cầu đề

    + Cần giải thích rõ nội dung tư tưởng đạo lý.

    + Giải thích các từ ngữ, thuật ngữ, khái niệm, nghĩa đen, nghĩa bóng ( nếu có).

    + Rút ra ý nghĩa chung của tư tưởng, đạo lý; quan điểm của tác giả qua câu nói ( thường dành cho đề bài có tư tưởng, đạo lý được thể hiện gián tiếp qua câu danh ngôn, tục ngữ, ngạn ngữ…).

    – Luận điểm 2: Phân tích và chứng minh

    + Các mặt đúng của tư tưởng, đạo lý ( thường trả lời câu hỏi tại sao nói như thế?).

    + Dùng dẫn chứng xảy ra cuộc sống xã hội để chứng minh.

    + Từ đó chỉ ra tầm quan trọng, tác dụng của tư tưởng, đạo lý đối với đời sống xã hội.

    + Dẫn chứng minh họa ( nên lấy những tấm gương có thật trong đời sống).

    – Rút ra bài học nhận thức và hành động

    + Rút ra những kết luận đúng để thuyết phục người đọc.

    + Áp dụng vào thực tiễn đời sống.

    Nêu khái quát đánh giá ý nghĩa tư tưởng đạo lý đã nghị luận.

    – Mở ra hướng suy nghĩ mới.

    2. Dàn ý về dạng đề mang tính nhân văn 2.1 Khái niệm:

    – Các tính nhân văn tốt đẹp: lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí nghị lực, tôn sư trọng đạo…

    – Hình thức: thường ra dưới dạng một ý kiến, một câu nói, một hay vài câu thơ hoặc tục ngữ, ngạn ngữ…

    a. Mở bài: Trong trường hợp là đề yêu cầu bàn về một câu nói, một ý kiến thì chúng ta nêu nội dung của ý kiến rồi dẫn ý kiến vào.

    Ví dụ trường hợp đề là một bài văn nghị luận ngắn nêu suy nghĩ về một vấn đề nào đó như: Viết một bài văn nghị luận ngắn trình bày suy nghĩ của anh/chị về câu nói của liệt sĩ Đặng Thùy Trâm: ” Đời phải trải qua giông tố nhưng không được cúi đầu trước giông tố “.

    Ta mở bài như sau:

    Cuộc sống quanh ta có biết bao nhiêu là khó khăn và thử thách. Nếu chúng ta hèn nhát và yếu đuối chắc chắn sẽ gặp thất bại nhưng với ý chí và nghị lực vượt qua mọi gian khó thì con đường vươn đến thành công sẽ mở ra trước mắt. Liệt sĩ Đặng Thùy Trâm đã ghi lại trong những dòng nhật ký đầy máu, nước mắt và niềm tin: “Đời phải trải qua giông tố nhưng không được cúi đầu trước giông tố “. Đó là giá trị chân lý sống, là con đường vươn tới tương lai.

    b. Thân bài

    Trong trường hợp đề chỉ yêu cầu bàn về đức tính của con người.

    Ví dụ: Cho mẩu chuyện sau: ” Có một con kiến đang tha chiếc lá trên lưng. Chiếc lá lớn hơn con kiến gấp nhiều lần. Đang bò, kiến gặp phải một vết nứt khá lớn trên nền xi măng. Nó dừng lại giây lát, đặt chiếc lá ngang qua vết nứt rồi vượt qua bằng cách bò lên trên chiếc lá. Đến bờ bên kia, con kiến lại tiếp tục tha chiếc lá và tiếp tục cuộc hành trình“. Bằng một văn bản ngắn ( khoảng 1 trang giấy thi), trình bày suy nghĩ của em về ý nghĩa mẩu chuyện trên.

    Trước hết, ta cần tìm hiểu thông điệp câu chuyện gửi đến: Những khó khăn, trở ngại vẫn thường xảy ra trong cuộc sống, luôn vượt khỏi toan tính và dự định của con người. Vì vậy, mỗi người cần phải có nghị lực, sáng tạo để vượt qua.

    – Giải thích ý nghĩa truyện:

    + Chiếc lá và vết nứt: Biểu tượng cho những khó khăn, vất vả, trở ngại, những biến cố có thể xảy ra đến với con người bất kì lúc nào.

    + Con kiến dừng lại trong chốc lát để suy nghĩ và nó quyết định đặt ngang chiếc lá qua vết nứt, rồi vượt qua bằng cách bò lên trên chiếc lá. Đó là biểu tượng cho con người biết chấp nhận thử thách, biết kiên trì, sáng tạo, dũng cảm vượt qua bằng chính khả năng của mình.

    – Bàn luận

    + Thực tế: những người biết chấp nhận thử thách, biết kiên trì, sáng tạo, dũng cảm vượt qua bằng chính khả năng của mình sẽ vươn đế thành công.

    + Tại sao con người cần có nghị lực trong cuộc sống?

    Cuộc sồng không phải lúc nào cũng êm ả, xuôi nguồn mà luôn có những biến động, những gian truân thử thách. Con người cần phải có ý chí, nghị lực, thông minh, sáng tạo và bản lĩnh mạnh dạn đối mặt với khó khăn gian khổ, học cách sống đối đầu và dũng cảm; học cách vươn lên bằng nghị lực và niềm tin. Dẫn chứng: Lê Lợi mười năm nếm mật nằm gai đưa cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đến thắng lợi.

    – Phê phán những quan niệm, suy nghĩ sai trái:

    + Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn những người bi quan, chán nản, than vãn, buông xuôi, ỷ lại, hèn nhát, chấp nhận, đầu hàng, đổ lỗi cho số phận…. cho dù những khó khăn ấy chưa phải là tất cả.

    + Dẫn chứng ( lấy từ thực tế cuộc sống).

    – Bài học nhận thức và hành động:

    + Về nhận thức: Khi đứng trước thử thách cuộc đời cần bình tĩnh, linh hoạt, nhạy bén tìm ra hướng giải quyết tốt nhất ( chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo).

    + Về hành động: Khó khăn, gian khổ cũng là điều kiện thử thách và tôi luyện ý chí, là cơ hội để mỗi người khẳng định mình. Vượt qua nó, con người sẽ trưởng thành hơn, sống có ý nghĩa hơn.

    c. Kết bài

    Khẳng định lại vấn đề.

    – Liên hệ.

    Ví dụ: Tóm lại, cuộc sống không phải lúc nào cũng thuận buồm xuôi gió. Khó khăn, thử thách, sóng gió có thể nổi lên bất cứ lúc nào. Đó là qui luật tất yếu mà con người phải đối mặt. Vì thế cần phải rèn luyện nghị lực và có niềm tin vào cuộc sống. ” Đường đi trải đầy hoa hồng sẽ không bao giờ dân đến vinh quang “.

    3. Dạng đề nêu những vấn đề tác động đến việc hình thành nhân cách con người 3.1 Các vấn đề thường gặp:

    – Vấn đề tích cực: tình yêu quê hương đất nước, lòng nhân ái, tình yêu thiên nhiên, ý chí nghị lực, hành động dũng cảm…

    – Vấn đề tiêu cực: Thói dối trá, lối sống ích kỷ, phản bội, ghen tị, vụ lợi cá nhân…

    3.2 Dạng đề

    Đề thường ra dưới dạng một ý kiến, một câu nói, tục ngữ, ngạn ngữ, một mẩu chuyện nhỏ, một đoạn tin trên báo đài…

    Ví dụ: Sài Gòn hôm nay đầy nắng. Cái nắng gắt như thiêu như đốt khiến dòng người chạy bạt mạng hơn. Ai cũng muốn chạy cho nhanh để thoát khỏi cái nóng. Một người phụ nữ độ tuổi trung niên đeo trên vai chiếc ba lô thật lớn, tay còn xách giỏ trái cây. Phía sau bà là một thiếu niên. Cứ đi được một đoạn, người phụ nữ phải dừng lại nghỉ mệt. Bà lắc lắc cánh tay, xoay xoay bờ vai cho đỡ mỏi. Chiếc ba lô nặng oằn cả lưng. Chàng thiếu niên con bà bước lững thững, nhìn trời ngó đất. Cậu chẳng mảy may để ý đến những giọt mồ hôi đang thấm ướt vai áo mẹ. Chốc chốc thấy mẹ đi chậm hơn mình, cậu còn quay lại gắt gỏng: “ Nhanh lên mẹ ơi! Mẹ làm gì mà đi chậm như rùa”.

    ( Những câu chuyện xót xa về sự vô cảm của con trẻ – http://vietnamnet.vn)

    Viết văn bản ngắn ( khoảng một trang giấy thi) nêu suy nghĩ của em về hiện tượng được nhắc đến trong câu chuyện trên.

    a. Mở bài

    Ta có gợi ý mở bài như sau: ” Trong cuộc sống, nếu như chúng ta có sự quan tâm lẫn nhau, biết suy nghĩ về nhau thì cuộc đời sẽ đẹp biết bao. Thế nhưng, hiện nay sự thờ ơ vô cảm của giới trẻ đang xuất hiện ngày càng nhiều. Những câu chuyện xót xa về sự vô cảm của con trẻ được đăng trên chúng tôi đã gợi cho chúng ta nhiều suy tư về quan niệm sống trong xã hội.

    b. Thân bài

    – Giải thích

    + Thế nào là thờ ơ, vô cảm?

    + Những hiện tượng vô cảm, thờ ơ trong gia đình hiện nay được biểu hiện như thế nào? ( tóm tắt lại văn bản một cách ngắn gọn, rút ra vấn đề).

    – Bàn luận

    + Thực trạng: Thờ ơ, vô tâm; quát mắng cha mẹ; đánh đập, thậm chí làm người thân tổn thương vì những hành vi bạo lực,…

    + Hậu quả: Con người trở nên lãnh cảm với mọi thứ, tình cảm thiếu thốn dễ nảy sinh tội ác, khó hình thành nhân cách tốt đẹp; gia đình thiếu hơi ấm, nguội lạnh, thiếu hạnh phúc, dễ gây bất hòa; sự vô cảm, cái ác sẽ thống trị và nhân lên trong xã hội,…

    + Nguyên nhân:

    * Bản thân ( thiếu ý thức chia sẻ gian khó với mọi người xung quanh, chỉ biết vụ lợi…).

    * Gia đình ( cha mẹ quá nuông chìu con cái, thiếu giáo dục ý thức cộng đồng cho con cái…).

    * Nhà trường ( chỉ chăm lo dạy chữ mà coi nhẹ việc giáo dục đạo đức, bồi dưỡng tình cảm cho học sinh…).

    * Xã hội ( sự phát triển không ngừng của khoa học, con người trở nên xơ cứng, chỉ nghĩ đến cá nhân, thiếu ý thức cộng đồng…).

    – Phê phán

    + N hững biểu hiện lạnh lùng vô cảm.

    + Đề cao thái độ đồng cảm, tình người.

    + Nêu dẫn chứng.

    – Bài học nhận thức và hành động

    + Về nhận thức: đây là một vấn đề xấu nhiều tác hại mà mỗi chúng ta cần đấu tranh và loại bỏ ra khỏi bản thân mình và xã hội.

    + Về hành động, cần học tập và rèn luyện nhân cách, sống cao đẹp, chan hòa, chia sẻ, có ý thức cộng đồng.

    Quan tâm, chia sẻ với mọi người chung quanh để đầy ý nghĩa.

    4. Cách thiết lập dàn ý nghị luận về hiện tượng đời sống 4.1 Khái niệm

    Nghị luận về một hiện tượng đời sống là bàn bạc về một hiện tượng đang diễn ra trong thực tế đời sống xã hội mang tính chất thời sự, thu hút sự quan tâm của nhiều người ( như ô nhiễm môi trường, nếp sống văn minh đô thị, tai nạn giao thông, bạo hành gia đình, lối sống thờ ơ vô cảm, đồng cảm và chia sẻ …).

    – Đó có thể là một hiện tượng tốt hoặc xấu, đáng khen hoặc đáng chê.

    – Phương pháp: Để làm tốt kiểu bài này, học sinh cần phải hiểu hiện tượng đời sống được đưa ra nghị luận có thể có ý nghĩa tích cực cũng có thể là tiêu cực, có hiện tượng vừa tích cực vừa tiêu cực… Do vậy, cần căn cứ vào yêu cầu cụ thể của đề để gia giảm liều lượng cho hợp lý, tránh làm bài chung chung, không phân biệt được mặt tích cực hay tiêu cực.

    4.2 Thiết lập dàn ý

    a. Mở bài: Giới thiệu hiện tượng đời sống phải nghị luận.

    Luận điểm 1: giải thích sơ lược hiện tượng đời sống; làm rõ những hình ảnh, từ ngữ, khái niệm trong đề bài.

    – Luận điểm 2: nêu rõ thực trạng các biểu hiện và ảnh hưởng của hiện tượng đời sống.

    + Thực tế vấn đề đang diễn ra như thế nào, có ảnh hưởng ra sao đối với đời sống, thái độ của xã hội đối với vấn đề.

    + Chú ý liên hệ với thực tế địa phương để đưa ra những dẫn chứng sắc bén, thuyết phục từ đó làm nổi bật tính cấp thiết phải giải quyết vấn đề.

    – Luận điểm 3: lý giải nguyên nhân dẫn đến hiện tượng đời sống, đưa ra các nguyên nhân nảy sinh vấn đề, các nguyên nhân từ chủ quan, khách quan, do tự nhiên, do con người. Nguyên nhân nảy sinh vấn đề để đề xuất phương hướng giải quyết trước mắt, lâu dài.

    – Luận điểm 4 đề xuất giải pháp để giải quyết hiện tượng đời sống. Chú ý chỉ rõ những việc cần làm, cách thức thực hiện, đòi hỏi sự phối hợp với những lực lượng nào).

    Khái quát lại vấn đề đang nghị luận.

    – Thái độ của bản thân về hiện tượng đời sống đang nghị luận.

    5. Cụ thể hóa cấu trúc hiện tượng đời sống có tác động đến con người a. Mở bài:

    Ví dụ 1: ” Việt Nam vốn là một quốc gia yêu chuộng hòa bình và có nhiều truyền thống nhân văn cao đẹp về lòng yêu thương con người, lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, sự đồng cảm sẻ chia… Một trong những biểu hiện cao đẹp của truyền thống ấy đang được tuổi trẻ ngày nay phát huy. Đó chính là (…). Đây là một hiện tượng tốt có nhiều ý nghĩa nhân văn cao đẹp.”

    – Ví dụ 2: ” Môi trường học đường của chúng ta hiện nay đang đứng trước thử thách bởi các vấn nạn: bạo lực học đường, gian lận trong thi cử, nói tục chửi thề, bệnh thành tích trong giáo dục… Một trong những vấn đề thách thức hàng đầu hiện nay đó chính là (…). Đây là một hiện tượng tiêu cực có nhiều tác hại mà ta cần lên án và loại bỏ”.

    – Ví dụ 3: Xã hội của chúng ta hiện nay đang đứng trước nhiều thách thức như: tai nạn giao thông, ô nhiễm môi trường, nạn tham nhũng, bệnh vô cảm… Một trong những vấn đề thách thức hàng đầu hiện nay đó chính là (…). Đây là một hiện tượng xấu có nhiều tác hại mà ta cần lên án và loại bỏ.

    b. Thân bài

    Ví dụ: Đề bàn về tai nạn giao thông.

    Trước hết ta cần hiểu ” Tai nạn giao thông ” là gì? Tai nạn giao thông là tai nạn do các phương tiện tham gia giao thông gây nên. Bao gồm: tai nạn giao thông đường bộ, đường thủy, đường sắt, đường hàng không. Trong đó nhiều nhất là tai nạn giao thông đường bộ.

    Bàn luận:

    – Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông: ( trình bày nguyên nhân):

    + Chủ quan: ý thức người tham gia giao thông. Đây là ngyên nhân cơ bản, quan trọng nhất dẫn đến tai nạn giao thông: không chấp hành luật giao thông, thiếu quan sát, phóng nhanh, giành đường, vượt ẩu, sử dụng rượu bia và các chất kích thích khi tham gia giao thông…

    + Khách quan: cơ sở hạ tầng giao thông còn hạn chế, chưa đáp ứng nhu cầu xã hội, mật độ dân số ngày càng đông…

    – Phân tích những nguyên nhân, tìm ra biện pháp khắc phục: ( trình bày biện pháp).

    + Xây dựng ý thức tôn trọng pháp luật

    + An toàn giao thông – hạnh phúc của mọi người, mọi nhà.

    + Hãy chấp hành nghiêm luật giao thông đường bộ.

    + Hãy đội mũ bảo hiểm để bảo vệ cuộc sống của bạn.

    + Lái xe bất cẩn – Ân hận cả đời.

    + Hãy nói không với rượu, bia khi tham gia giao thông.

    + Có văn hóa giao thông là sống vì cộng đồng.

    – Bài học bản thân: ” An toàn là bạn, tai nạn là thù ” để không trở thành nạn nhân của tai nạn giao thông. Như rèn luyện nhân cách, bản lĩnh; tham gia vào các sinh hoạt văn hóa lành mạnh…

    c. Kết bài

    – Tai nạn giao thông là một vấn nạn ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội cần sữ chung sức của cả cộng đồng.

    – Hãy thể hiện mình là người có văn hóa khi tham gia giao thông.

    Nguyễn Thủy Tiên

    ( Giáo viên Quốc tế Á Châu)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Làm Bài Văn Nghị Luận Xã Hội Đạt Điểm Cao
  • Cách Làm Văn Nghị Luận Lớp 12
  • Cách Viết Đoạn Văn Nghị Luận Xã Hội 200 Chữ
  • Cách Làm Bài Văn Nghị Luận Xã Hội Lớp 12
  • Cấu Trúc Của Một Luận Văn Tốt Nghiệp
  • Cách Viết Phần Mở Bài Trong Bài Văn Nghị Luận

    --- Bài mới hơn ---

  • Kỹ Năng Làm Bài Văn Tự Sự Lớp 10.
  • Làm Thế Nào Để Viết Bài Văn Tự Sự Hay
  • Gia Sư Văn Hướng Dẫn Học Sinh Thcs Làm Bài Văn Tự Sự
  • Viết Lời Chia Buồn Tang Lễ Bằng Tiếng Anh Chuẩn Như Người Nước Ngoài
  • Những Câu Chia Buồn Bằng Tiếng Anh Ở Các Trường Hợp Trong Cuộc Sống
  • Cách viết phần mở bài trong bài văn nghị luận

    Đối với học sinh, một trong những phần các em thường bối rối khi viết văn nghị luận là phần mở bài. Tuy đây không phải là phần trọng tâm của bài văn nhưng nó là phần không thể thiếu, góp phần làm nổi bật vấn đề. Nhiều em học sinh còn lúng túng, mất khá nhiều thời gian cho phần này.

    Bài viết chia sẻ với các em một số “mẹo vặt ” để viết mở bài, cách này nhiều người đã áp dụng và thấy khá hiệu quả. Bài viết có 2 phần : Phần 1 hướng dẫn chung, phần 2 là một số mẹo vặt dành cho học sinh yếu

    I.Hướng dẫn Cách viết phần mở bài trong bài văn nghị luận

    Trong cuộc sống mỗi người đều có quan niệm sống riêng. Có người chỉ sống vì tiền tài danh vọng mà quên đi giá trị đích thực của cuộc sống.Quan niệm sống tốt là sự hài hòa giữa danh vọng ,tiền bạc với các mối quan hệ và giá trị của con người với thiên nhiên,không bị chi phối bởi vật chất, sống hết mình, làm việc hết mình. (Bài viết của học sinh)

    -Mở bài gián tiếp:

    Nhà văn Pháp Đ.Đi-đơ-rô từng quan niệm ” Nếu không có mục đích ,anh không làm được gì cả.Anh cũng không làm được gì vĩ đại nếu như mục đích bình thường.Đây là quan niệm đúng và rất phù hợp với chúng ta.Trong cuộc sống mỗi người đều có một lí tưởng sống riêng để tự vươn tới,tự hoàn thiện và phát triển bản thân. Bất kì ai cũng cần tự tạo cho mình một lí tưởng và có lòng quyết tâm theo lí tưởng ấy “.

    (Bài viết của học sinh)

    Đối với nghị luận văn học, các em cũng làm tương tự

    * Ví dụ minh họa 2

    Đề bài :

    Phân tích tình huống truyện độc đáo trong Vợ nhặt của Kim Lân

    – Mở bài trực tiếp:

    “Vợ nhặt” được coi là kiệt tác trong sự nghiệp sáng tác của Kim Lân, cũng là một truyện ngắn xuất sắc của văn xuôi Việt Nam hiện đại. Một trong những yếu tố quan trọng giúp tạo ra những giá trị tư tưởng và nghệ thuật đặc sắc cho truyện ngắn chính là việc Kim Lân đã xây dựng thành công tình huống truyện độc đáo.

    * Ví dụ minh họa 3

    Bản quyền bài viết này thuộc về http://vanhay.edu.vn. Mọi hành động sử dụng nội dung web xin vui lòng ghi rõ nguồn

    +Nói đến Chính Hữu không thể không nói đến bài thơ “Đồng chí”.Bài thơ như một điểm sáng trong tập “Đầu súng trăng treo”- tập thơ viết về đề tài người lính của ông. ( mở bài trực tiếp )

    +Đề : Phân tích nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao.

    II. Mẹo viết phần mở bài cho học sinh yếu

    Nam Cao là một cây bút chuyên về truyện ngắn. Ông đã rất thành công ở các tác phẩm khai thác đề tài về những con người bị tha hóa trong xã hội cũ . Một trong những tác phẩm tiêu biểu của ông là

    truyện ngắn ” Chí phèo “. Tác phẩm khắc họa thành công chân dung nhân vật Chí phèo, người nông dân lương thiện bị đẩy vào con đường tha hóa.

    +Kim lân là một cây bút chuyên về truyện ngắn. Ông đã rất thành công ở các tác phẩm khai thác đề tài người nông dân trong xã hội cũ. Một trong những tác phẩm tiêu biểu của ông là truyện ngắn ” Vợ nhặt”. Tác phẩm khắc họa thành công chân dung nhân vật Bà cụ Tứ, một bà mẹ nông dân nghèo, có tấm lòng nhân hậu….

    +Nguyễn Tuân là một cây bút chuyên về truyện ngắn. Ông đã rất thành công ở các tác phẩm khai thác đề tài về những con người tài hoa trong xã hội cũ . Một trong những tác phẩm tiêu biểu của ông là

    truyện ngắn ” Chữ người tử tù “. Tác phẩm khắc họa thành công chân dung nhân vật Huấn cao, một người tài hoa xuất chúng, có khí phách và thiên lương trong sáng…

    Các em có thể ” chế ra hàng loạt những mở bài tương tự, kể cả những đề thuộc lĩnh vực khác, ví dụ:

    Huy cận là một cây bút xuất sắc trong phong trào thơ mới. Ông đã rất thành công ở các tác phẩm khai thác đề tài phong cảnh sông nước quê hương . Một trong những tác phẩm tiêu biểu của ông là

    Bài thơ “Tràng giang” . Bài thơ được gợi hứng từ cảnh sông hồng mênh mang sóng nước…

    Một số mẫu có sẵn, các em có thể học thuộc :

    1. Xây dựng một hình tượng nhân vật đã khó, nhưng để nhân vật đó có sức lay động và chiếm trọn trái tim người đọc còn khó hơn. Ấy vậy mà nhà thơ/nhà văn … đã làm được điều đó. Nhân vật “ABC/XYZ” của ông đã ghi dấu ấn sâu đậm trong lòng người đọc về hình ảnh của một ( tùy đề bài yêu cầu phân tích nhân vật nào thì khái quát nhân vật đó)

    2. Thời gian vẫn trôi đi và bốn mùa luôn luân chuyển. Con người chỉ xuất hiện một lần trong đời và cũng chỉ một lần ra đi mãi mãi vào cõi vĩnh hằng. Nhưng những gì là thơ, là văn, là nghệ thuật đích thực thì vẫn còn mãi mãi với thời gian. T ác phẩm “ABC/XYZ” của nhà văn/ nhà thơ….là một trong số những tác phẩm nghệ thuật như thế.

    Đặc biệt là trích đoạn….( nếu người ta yêu cầu phân tích đoạn trích)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Cách Viết Kết Bài Văn Nghị Luận
  • Top 10 Bài Văn Về Mẹ Hay Và Ý Nghĩa Nhất
  • Cách Ẩn Link Tiếp Thị Liên Kết Trong WordPress Sử Dụng Url Shortener Pro
  • Top 3 Cách Làm Tiếp Thị Liên Kết Trên Facebook Hiệu Quả 2022
  • Tiếp Thị Liên Kết Là Gì? Hướng Dẫn Kiếm Tiền Với Tiếp Thị Liên Kết
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100