Xem Nhiều 2/2023 #️ Ôn Thi Vào 10: Cách Viết Đoạn Văn Nghị Luận Văn Học Lớp 9 # Top 2 Trend | Toiyeucogaihalan.com

Xem Nhiều 2/2023 # Ôn Thi Vào 10: Cách Viết Đoạn Văn Nghị Luận Văn Học Lớp 9 # Top 2 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Ôn Thi Vào 10: Cách Viết Đoạn Văn Nghị Luận Văn Học Lớp 9 mới nhất trên website Toiyeucogaihalan.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Để đọc hiểu một tác phẩm văn học, bạn đọc nói chung và bạn đọc trong nhà trường là học sinh nói riêng thường đọc hiểu theo một quy trình chung:

Đọc và tìm hiểu chi tiết: đọc phân tích từng phần như phân tích đoạn văn, đoạn thơ, phân tích nhân vật, phân tích hình tượng, hình ảnh, chi tiết, hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ,…từ đó đọc ra tư tưởng, thái độ tình cảm của tác giả trước vấn đề xã hội, trước hiện thực cuộc sống được gửi gắm trong tác phẩm. Trên cơ sở kiến thức về đọc hiểu tác phẩm, để kiểm tra, đánh giá và tự kiểm tra, đánh giá kĩ năng nói viết của bạn đọc học sinh về những kiến thức đọc hiểu cụ thể, cần có những bài tập rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn.

Các loại đoạn văn Nghị luận văn học cần phải viết 1. Đoạn văn giới thiệu hoàn cảnh ra đời của tác phẩm. 2. Đoạn văn tóm tắt tác phẩm 3. Đoạn văn giải thích ý nghĩa nhan đề của tác phẩm. 4. Đoạn văn phân tích một chi tiết quan trọng, từ ngữ đặc sắc của tác phẩm. 5. Đoạn văn phân tích đặc điểm nhân vật. 6. Đoạn văn phân tích hiệu quả nghệ thật của biện pháp tu từ. 7. Đoạn văn phân tích, cảm nhận về một đoạn văn, đoạn thơ. Những bài tập luyện viết đoạn văn nghị luận văn học trong nhà trường thường có yêu cầu phối hợp giữa yêu cầu về nội dung, đề tài với yêu cầu về hình thức diễn đạt.

Ví dụ: Viết một đoạn văn diễn dịch, kết thúc đoạn là một câu cảm thán, phân tích lòng yêu nghề, say mê công việc của anh thanh niên trong tác phẩm ” Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long.

Thông thường, các thao tác viết đoạn được diễn ra như sau: Người viết đọc kĩ bài tập, xác định đúng những yêu cầu của bài tập về nội dung và hình thức. Với bài tập trên, yêu cầu về nội dung là phân tích lòng yêu nghề, say mê công việc của nhân vật anh thanh niên trong tác phẩm ” Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long; yêu cầu về hình thức là viết đoạn văn theo mô hình diễn dịch, kết thúc đoạn là một câu cảm thán.

Người viết lập ý cho đoạn văn và định hình vị trí các câu trong đoạn ,phương tiện liên kết đoạn; đặc biệt là các yêu cầu cụ thể về viết câu (câu cảm thán, câu hỏi tu từ, câu ghép,…) trong đoạn.

+ Tìm ý cho đoạn văn. Với bài tập trên: đây là đoạn văn phân tích đặc điểm nhân vật, đặc điểm nổi bật của anh thanh niên trong tác phẩm là lòng yêu nghề, say mê công việc. Vậy muốn tìm ý cần trả lời các câu hỏi: nghề nghiệp, công việc cụ thể của anh là gì? Công việc đó có ý nghĩa như thề nào? Anh có những suy nghĩ gì về công việc của mình? Em có nhận xét, đánh giá về suy nghĩ của anh thanh niên như thế nào?…

– Đọc lại và sửa chữa. Viết xong, người viết cần đọc kiểm tra lại xem đoạn văn đã đáp ứng được những yêu cầu của bài tập về nội dung và hình thức chưa; nếu thấy chỗ nào chưa ổn cần chỉnh sửa lại.

Rèn Luyện Kĩ Năng Về Cách Làm Bài Văn Nghị Luận Văn Học Lớp 9 Có Hiệu Quả

Rèn luyện kĩ năng về cách làm bài văn nghị luận Văn học lớp 9 có hiệu quả

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

Trong chương trình Ngữ văn THCS , phân môn Tập làm văn đối với học sinh vùng sâu vùng xa nói chung và những vùng tuy gọi là ở vùng giữa nhưng không có điều kiện vì xa trường, xa trung tâm xã đó là điều hết sức khó khăn cho học sinh có điều kiện hoàn cảnh như vậy.

Nghị luận văn học nhằm hình thành, phát triển khả năng lập luận chặt chẽ, trình bày những lí lẽ, dẫn chứng một cách sáng sủa giàu sức thuyết phục khi bày tỏ ý kiến bản thân về một tác phẩm văn học nào đó .

Để viết được bài văn hay đòi hỏi học sinh cần phải có kiến thức văn học và kĩ năng cơ bản khi viết bài . Nhưng kiến thức và kĩ năng cơ bản đó có từ đâu? Đó chính là từ những bài giảng , từ sự hướng dẫn của giáo viên và từ cách cảm thụ của học sinh.

Vì vậy, qua thực tế giảng dạy.Tôi mạnh dạn trình bày một số kinh nghiệm của bản thân trong việc rèn luyện cho học sinh viết bài văn nghị luận văn học lớp 9.

I- Lí do chọn đề tài

Nghị luận văn học là một kiểu bài khó so với văn nghị luận nói riêng và phân môn tập làm văn nói chung. Kiểu bài này đòi hỏi học sinh phải có năng lực phân tích , đánh giá từ khái quát đến cụ thể, có sự hiểu biết về xã hội, về văn học, về lịch sử … và đặc biệt là kĩ năng trình bày .

Nhưng đối với học sinh THCS đặc biệt là học sinh ở những vùng không được thuận lợi thì kĩ năng viết văn của các em còn nhiều hạn chế : Bài viết rời rạc, khô khan, dùng câu dùng từ chưa chính xác, bố cục chưa rõ ràng , lập luận chưa có sức thuyết phục , vốn từ nghèo nên diễn đạt lủng củng tối nghĩa ,dài dòng, không thoát ý, mắc nhiều lỗi chính tả.

Từ thực trạng trên , tôi đã tìm tòi, học hỏi bạn bè, đồng nghiệp và mạnh dạn đưa ra sáng kiến kinh nghiệm : Rèn luyện kĩ năng về cách làm bài

văn nghị luận văn học lớp 9 có hiệu quả

II- Nhiệm vụ của đề tài

Người giáo viên cần cung cấp giúp cho học sinh nắm chắc những kiến thức cơ bản về văn nghị luận nói chung và nghị luận văn học nói riêng. Từ đó hướng dẫn rèn luyện cho các em kĩ năng từ viết đúng, dần dần hướng tới bài viết hay, có ý tứ sâu xa, lời lẽ ngắn gọn, hàm súc, bài viết mạch lạc, gợi cảm và có sức thuyết phục .

III- Đối tượng nghiên cứu

Để thực hiện đề tài tôi đã chọn đối tượng học sinh lớp 9 do tôi trực tiếp giảng dạy và đứng lớp

IV-Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp hướng dẫn thực hành , luyện viết là chủ yếu.

I-Vài nét về đối tượng nghiên cứu

Hai lớp 9 do tôi trực tiếp giảng dạy và đứng lớp gồm 73 em nhưng do điều kiện của một số em ở xa trường học ( đặc biệt là ở xóm An Lạc vùng xa nhất của xã Lộc Thủy), hoàn cảnh thì khó khăn mà lại xa trung tâm nên nhận thức của các em về việc học nói chung và bộ môn Ngữ văn nói riêng còn nhiều hạn chế. Do đó việc cảm thụ về văn chương và kĩ năng viết văn còn rất nhiều khó khăn. Hầu hết học sinh rất ngại học môn Ngữ văn nhất là phân môn Tập làm văn. Theo các em đây là môn học ” Vừa khô , vừa khó, vừa khổ “. Bởi vì các học sinh có vốn từ quá yếu, quá thiếu , nhiều em còn ngại suy nghĩ, không chịu khó tham khảo sách báo nên để có một bài văn với nội dung phong phú, lập luận chặt chẽ, sắc sảo thì quả là rất khó đối với học sinh mà đặc biệt là các em có điều kiện hoàn cảnh như vậy.

II- Những thuận lợi và khó khăn

* Giáo viên

Trong quá trình giảng dạy tôi luôn được Ban giám Hiệu nhà trường tạo điều kiện quan tâm giúp đỡ . Trường có đội ngũ giáo viên có năng lực trình

độ vững vàng trong chuyên môn nghiệp vụ .

Cơ sở vật chất của nhà trường tương đối ổn định.

Nhà trường đã trang cấp số máy vi tính cho phòng Tin học với 3 em/ máy.

* Học sinh

Đa số các em ngoan ngoãn , có ý thức học hỏi và có sự cố gắng trong học tập.

Các em được cung cấp đủ sách giáo khoa vở viết.

2. Khó khăn

* Giáo viên :

Tài liệu nghiên cứu ,tham khảo của bộ môn tuy là phong phú nhưng chưa đáp ứng được những nội dung đặc trưng bộ môn. Giáo viên có nhiều kinh nghiệm nhưng việc ứng dụng công nghệ thông tin còn nhiều hạn chế.

Chủ yếu là học sinh con em trong địa bàn xã nhưng một số ở vùng xa trung tâm như ở xóm An Lạc, nghề chính của bố mẹ là đánh cá và làm nông nên thiếu nhận thức và ít quan tâm về việc học của con em mình, đời sống kinh tế còn hạn hẹp . Do vậy các em không có điều kiện để mua tài liệu tham khảo , trang bị kiến thức cho bài viết .

Học sinh thường xuyên sử dụng tiếng địa phương trong giao tiếp hàng ngày nên vốn ngôn ngữ phổ thông rất hạn chế , kĩ năng diễn đạt còn yếu.

Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn. Cơ sở lí luận

– Thể loại văn nghị luận là một trong những nội dung quan trọng của môn Ngữ văn nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng.

– Bản chất của việc học thể loại nghị luận là người viết thường vận dụng nhiều thao tác, kĩ năng( giải thích, chứng minh, phân tích, bình giảng…) để

từ đó giúp các em biết trình bày một cách có lí lẽ, hấp dẫn những cảm nhận, suy nghĩ, đánh giá của mình về một vấn đề văn học.

Học làm văn nghị luận cũng như mọi loại hình học tập khác là phải biết xây dựng từ sự hiểu biết cơ bản đến các mức độ cao.

Trong khi rèn luyện kĩ năng cách làm bài văn nghị luận văn học thì mỗi một giáo viên cần chú ý phát huy, động viên tích cực sự sáng tạo của từng học sinh chứ không được gò ép theo những khuôn mẫu.

Chúng ta cần xác định đây là tiết dạy học rèn luyện, rèn phương pháp, kĩ năng làm văn

Chứ không phải là giảng văn. Vì thế cần tránh sa vào bình giảng và phân tích một tác phẩm cụ thể.

C- Tổ chức thực hiện

2. Cơ sở thực tiễn

Trước khi thực hiện phương pháp trên, tôi đã tiến hành kiểm tra tình hình, thực trạng của học sinh bằng bài kiểm tra, khảo sát chất lượng đầu năm, cụ thể kết quả như sau:

Để học sinh có kĩ năng viết bài văn nghị luận văn học yêu cầu người giáo viên cần phải truyền thụ đúng , đầy đủ, chính xác để học sinh nắm vững kiến thức cơ bản về 2 kiểu bài: Nghị luận về một tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) và Nghị luận về một đoạn thơ , bài thơ

Trên cơ sở đó giáo viên tiếp tục hướng dẫn chi tiết cụ thể hơn cách khai thác chi tiết và phương thức diễn đạt cho học sinh để bài văn đạt kết quả tốt nhất .

I- Những kiến thức cơ bản

Nắm vững kiến thức cơ bản về khái niệm nghị luận văn học nói chung và nghị luận về một tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích ) ; Nghị luận về một đoạn thơ ,bài thơ nói riêng .

Biết tìm hiểu đề ,tìm ý

Biết lập dàn ý từ đại cương đến chi tiết

Biết dựng đoạn và liên kết đoạn văn

II- Hướng dẫn học sinh viết bài văn hay

Muốn học sinh viết bài văn nghị luận từ đạt yêu cầu đến hay giáo viên cần hướng dẫn học sinh chú ý thoả mãn các điều kiện sau:

1. Xác định đúng nội dung yêu cầu của đề:

Đối với kiểu bài nghị luận về một tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) cần xác định yêu cầu cụ thể của đề bài là loại bài gì? (bàn về nhân vật trong tác phẩm (hoặc đoạn trích) ; Bàn về nội dung của tác phẩm ( hoặc đoạn trích ) bàn về nghệ thuật của tác phẩm (hoặc đoạn trích ) hay bàn về đề tài của tác phẩm (hoặc đoạn trích)

Trên cơ sở đó mà tiến hành tiếp nội dung các bước sau:

Đối với kiểu bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ cần phải xác định phạm vi đối tượng mà đề yêu cầu (Nghị luận về một bài thơ hay một đoạn thơ ) .Cần xác định được đề tài và nội dung của đề bài . Hướng nghị luận (do đề quy định hay do người viết lựa chọn )

-Đối với từng đối tượng phải bàn cần có thêm những dạng câu hỏi tìm ý phù hợp

2. Hiểu rõ hoàn cảnh sáng tác tác phẩm

Hoàn cảnh sáng tác tác phẩm có vai trò rất quan trọng khi cần đánh giá

nhận xét một tác phẩm văn học . Đặt tác phẩm vào hiện thực xã hội lúc đó , ta sẽ hiểu rõ và nhìn nhận đúng hơn về tâm trạng, hành động suy nghĩ của nhân vật trong một tác phẩm (hoặc đoạn trích ) hay tình cảm ,cảm xúc của nhân vật được thể hiện trong một bài thơ .Từ đó có thể làm rõ các vấn đề : Tại sao đối tượng lại có hành động ,suy nghĩ như vậy ? Hành động suy nghĩ đó bộc lộ tâm trạng cảm xúc như thế nào ? Tâm trạng cảm xúc đó nói lên phấm chất gì của đối tượng .

VD: Khi làm bài văn nghị luận với đề : Những đặc sắc trong bài thơ ” Viếng Lăng Bác ” của Viễn Phương .

Học sinh cần phải nắm rõ hoàn cảnh sáng tác bài thơ là : Năm 1976, sau khi cuộc kháng chiến chống Mĩ kết thúc thắng lợi ,đất nước thống nhất ,lăng Chủ Tịch Hồ Chí Minh cũng vừa khánh thành,Viễn Phương ra thăm miền Bắc, vào lăng viếng Bác Hồ .Bài thơ Viếng Lăng Bác được viết trong dịp đó và in trong tập ” Như mây mùa xuân ” (1978) . Để thấy được lòng thành kính , niềm xúc động sâu sắc của nhà thơ và tấm lòng của đồng bào miền Nam đối với Bác. Cùng với giọng điệu trang trọng và tha thiết , nhiều hình ảnh ẩn dụ đẹp và gợi cảm ngôn ngữ bình dị mà cô đúc ta thấy được mong muốn của người con miền Nam là được ở gần Bác mãi mãi, muốn làm vui làm khuây , làm vợi nỗi vắng vẻ trong lăng của con người đã suốt đời hi sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc ,con người lúc sinh thời đã dành trọn tình thương yêu cho mọi tầng lớp nhân dân , đặc biệt cho đồng bào miền Nam ruột thịt .

Có luận điểm rõ ràng, bài văn sạch sẽ mạch lạc, các ý trình bày không bị chồng chéo ,lủng củng .Khi triển khai các luận điểm sẽ dễ tìm luận cứ, luận chứng và lí lẽ. Để có luận điểm rõ ràng phải đọc kĩ yêu cầu của đề bài , xác định giới hạn phạm vi yêu cầu của đề và trả lời các câu hỏi tìm ý: Điều nổi

bật nhất để có thể làm rõ vấn đề là gì ? Điều đó được biểu hiện qua những chi tiết cụ thể nào ?

VD: Đề bài : Cảm nhận của em về đoạn trích Chiếc Lược Ngà của Nguyễn Quang Sáng

Luận điểm 1: Tình cảm của bé Thu đối với cha

Lí lẽ 1 : Thái độ và tình cảm của bé Thu trong những ngày đầu chưa nhận cha : Kiên quyết cự tuyệt tình cảm của cha

Lí lẽ 2 : Thái độ và hành động của bé Thu trong buổi chia tay : Tình cha con cảm động bị dồn nén bao lâu nay mới có dịp ùa dậy mãnh liệt sâu sắc .

– Luận điểm 2 . Tình cha con sâu nặng của ông Sáu

Lí lẽ 1 : – Trong đợt nghỉ phép :

Đầu tiên là sự hụt hẫng , buồn khi thấy đứa con sợ hãi và bỏ chạy

Tiếp theo là sự kiên nhẫn cảm hoá , vỗ về để đứa con nhận cha

Đến phút chia tay : Có cảm nhận bất lực và buồn

Khi đứa con thét lên tiếng ” Ba ” thì hạnh phúc tột cùng

Lí lẽ 2 : Sau đợt nghỉ phép :

-Luận điểm 3:

+Say sưa, tỉ mỉ làm chiếc lược ngà trên có khắc dòng chữ ” Yêu nhớ tặng Thu con của ba”.

+Trước khi trút hơi thở cuối cùng ” Hình như chỉ có tình cha con là không thể chết được ” trong trái tim của ông Sáu .

Nghệ thuật xây dựng nhân vật sinh động nhất là các biến thái tình cảm và hành động của nhân vật bé Thu

Cốt truyện chặt chẽ , có những tình huống bất ngờ nhưng vì xảy ra trong hoàn cảnh thời chiến nên vẫn đảm bảo hợp lí trong vận động của cuộc sống thực tế

Ngôi kể thứ nhất cùng với ngôn ngữ giản dị , mang đậm màu sắc

Nam Bộ

4. Lựa chọn các chi tiết hình ảnh tiêu biểu

Đối với bài nghị luận về một tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích )cần lần lượt nghị luận từng luận điểm thông qua việc phân tích các chi tiết tiêu biểu trong tác phẩm ( Trang phục ,hình dáng cử chỉ ,hành động .Lời nói ,suy nghĩ , tâm lí của nhân vật ; nghệ thuật xây dựng nhân vật của tác giả …). Quan trọng nhất là phải biết phân tích những chứng cứ có giá trị để làm sáng tỏ luận điểm ( Nhận xét của người viết)

VD: Khi phân tích tình cảm của bé Thu đối với cha cần chú ý các chi tiết cử chỉ , hành động của bé Thu :

Trước khi nhận ông Sáu là cha ” Nghe gọi con bé giật mình , tròn mắt nhìn , ngơ ngác lạ lùng … “Mặt nó bỗng tái đi …. vụt chạy ….kêu thét lên”

+Trong buổi chia tay với cha : ” Kêu thét lên : – chúng tôi . Vừa kêu vừa chạy xô tới, nhanh như sóc, thót lên, dang tay ôm chặt lấy cổ ba nó……

Đối với kiểu bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ quan trọng nhất biết phân tích sự sáng tạo độc đáo các chi tiết , ngôn ngữ hình ảnh giọng điệu , đặc biệt là các yếu tố nghệ thuật để làm rõ từng luận điểm cụ thể

VD: Cảm nhận và suy nghĩ của em về đoạn kết trong bài thơ ” Đồng Chí ” của Chính Hữu .

Kết bài bằng 3 câu thơ dựng lên bức tranh đẹp về tình đồng chí trong chiến đấu . Biểu tượng đẹp về cuộc đời chiến sĩ : ba hình ảnh người lính, khẩu súng vầng trăng trong cảnh rừng hoang sương muối trong đêm phục kích đợi giặc . Tình đồng chí đã sưởi ấm lòng họ giữa cảnh đêm trăng mùa đông vô cùng lạnh giá trên trường .

Hình ảnh sáng tạo : ” Đầu súng trăng treo ” : đầy ấn tượng, cô đọng và gợi hình , gợi cảm . Ngoài hình ảnh còn có nhịp điệu như nhịp điệu như nhịp lắc của một cái gì đó lơ lửng, chông chênh, trong sự bát ngát .

Khi phân tích chỉ phân tích một vài chi tiết chính còn lại có thể phân tích lướt để đảm bảo bài văn vừa có chỉnh thể, vừa có trọng tâm, có điểm sáng, gây được ấn tượng.

5. Lựa chọn từ ngữ phù hợp

Ngôn ngữ giọng điệu của lời văn có vai trò rất quan trọng trong việc diễn tả các trạng thái cảm xúc, thái độ của người viết .Vì vậy khi viết văn cần lựa chọn từ ngữ và sắp xếp lời vănn để đạt được hiệu quả diễn đạt cao nhất. Có thể sử dụng từ ngữ mang sắc thái trang trọng, dùng cách nói giảm, nói tránh, sử dụng từ ngữ có giá trị biểu cảm cao ( tượng thanh, tượng hình ) kết hợp sử dụng các cách nói tu từ ẩn dụ với cá điệp từ ,điệp ngữ, so sánh nhân hoá, đặc biệt lời văn phải gợi cảm, thể hiện sự rung động chân thành 6. Bố cục chặt chẽ hợp lí .

Mở bài ,thân bài ,kết bài tách bạch rõ ràng .

Trình bày các ý dứt khoát ,tránh lan man đi quá xa đề, trình tự các ý phải theo một lôgic hợp lí .

Đối với kiểu bài nghị luận về một tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích ). Trình tự phân tích khác trình tự kể chuyện của tác phẩm, trình tự phân tích là theo mạch lập luận lí giải của người nghị luận .

Đối với kiểu bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ cần phân tích thẩm bình ( cảm thụ ) theo mạch cảm xúc của bài thơ , đoạn thơ…

6. Kết hợp tốt các phương thức biểu đạt

Biết kết hợp tốt các yếu tố tự sự, miêu tả , biểu cảm trong bài văn nghị luận văn học thì hiệu quả diễn đạt sẽ cao hơn , bài văn trở nên có hồn và hấp dẫn hơn.

Bên cạnh đó cần biết kết hợp hài hoà giữa nêu ý kiến khái quát ( luận điểm ) với phân tích , giữa nhận xét một chi tiết với thẩm bình cụ thể để tạo sự mạch lạc trong bài viết .

Có thể nói , phương pháp hướng dẫn để học sinh viết được một bài văn hay là vô cùng , hiểu được những vấn đề cơ bản trên sẽ giúp học sinh định hướng được cách nghĩ , cách

làm để có đựơc những bài viết mạch lạc, rõ ràng với lập luận chặt chẽ nội dung cô đọng, súc tích.

Với phương pháp hướng dẫn như trên, năm học qua tôi đã đạt được kết quả cụ thể như sau:

* Đối với học sinh :

Đọc tham khảo nhiều tài liệu , sách báo để bổ sung thêm kiến thức phổ thông và kiến thức xã hội

Biết rút kinh nghiệm từ những bài văn trước để những bài văn sau đạt kết quả cao hơn .

Đối với giáo viên :

Người giáo viên cần phải có lòng yêu nghề, hết lòng vì học sinh.

Chuẩn bị bài chu đáo hệ thống câu hỏi rõ ràng, dễ hiểu, sát với mục tiêu của bài và phải phát huy được tính tích cực của học sinh.

Nghiên cứu , tham khảo tài liệu , sách báo để bổ sung kiến thức cho bản thân.

Tham khảo các bài dạy ở trang web của PGD và trên mạng internet để góp thêm tue liệu cho bài giảng của mình thêm sinh động hơn.

-Thăm lớp dự giờ , học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp để nâng cao tay nghề .

Cần quan tâm chú trọng đến từng đối tượng học sinh đặc biệt là học sinh yếu kém, có hoàn cảnh xa trung tâm vì kĩ năng viết văn của các em còn nhiều hạn chế

-Truyền thụ đúng , đủ , chính xác , những kiến thức trọng tâm kết hợp lí thuyết với thực hành trong phân môn Tập làm văn.

Nói tóm lại qua đề tại này giúp mỗi giáo viên dạy bộ môn ngữ văn THCS thấy được rằng tầm quan trọng vủa việc rèn luyện kĩ năng về cách làm bài văn nghị luận văn học lớp 9. Bởi ở các lớp dưới, học sinh được học về các kiểu văn bản cụ thể, chẳng hạn ở lớp 7 đã học về văn bản biểu cảm, về văn nghị luận, đến lớp 8 học tiếp khá kĩ về văn bản nghị luận về cách nói và viết bài văn nghị luận có sử dụng yếu tố biểu cảm tự sự và miêu tả. Vì thế, cách làm bài văn nghị luận về văn học lớp 9 phải có sự kế thừa, nâng

cao kiến thứcđã cung cấp, kĩ năng đã rèn luyện ở các lớp trước, sự kế thừa nâng cao này thể hiện rõ nhất ở việc nhấn mạnh tính tổng hợp của tri thức của kĩ năng và tăng cường hoạt động thực hành của học sinh.

Đề tài này, bản thân dựa trên cơ sở thực tiễn của học sinh hiện nay,mục

đích giúp các em có sự nhìn nhận đúng đắn hơn về nghị luận văn học nói

riêng và yêu thích hơn về môn Ngữ văn nói chung, và giúp các đồng

nghiệp dạy bộ môn Ngữ văn THCS có thêm tư liệu để giảng dạy. Tuy rất cố

gắng nhưng không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong các đồng nghiệp

Lộc Thủy, ngày

góp ý bổ sung để đề tài này được hoàn thiện hơn.

Nguyễn Xuân Huy

Chân thành cảm ơn.

ý kiến HĐKH Người viết

Cách Làm Bài Văn Nghị Luận Xã Hội Lớp 9 Đạt Điểm Tối Đa

Có thể nói rằng văn nghị luận là kiểu văn bản khá quen thuộc đối với học sinh lớp 9. Tuy nhiên đó chỉ là cái tên quen thuộc nhưng thực chất ở nhiều học sinh vẫn chưa nắm rõ được cách làm 2 dạng văn nghị luận xã hội lớp 9: Văn nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học & văn nghị luận xã hội dưới dạng một câu chuyện.

Cách làm 2 dạng đề văn nghị luận xã hội lớp 9

1. Văn nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học

a) Đặc điểm cơ bản của dạng văn nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học.

Đây là dạng văn khá khó đối với học sinh lớp 9 bởi sự tích hợp giữa vấn đề xã hội và vấn đề văn học. Điều đó đòi hỏi học sinh phải có kiến thức tổng hợp về cả hai mảng kiến thức là văn học và xã hội. Tuy nhiên việc có kiến thức vẫn chưa đủ vì học sinh cần phải có thêm các kỹ năng phân tích văn bản và phân tích, đánh giá, lí giải các vấn đề xã hội nữa. Đề bài đặt ra trong dạng đề này thường là các vấn đề xã hội sâu sắc mang ý nghĩa nhân văn nào đó dựa trên các tác phẩm văn học (vấn đề đó có thể có trong chương trình học hoặc chưa được học).

Đề 1: Từ nhân vật Phương Định trong truyện ngắn “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê em có suy nghĩ gì về trách nhiệm của thanh niên hiện nay trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước?

Đề 2: Nhân vật anh thanh niên trong truyện ngắn “Lặng lẽ Sapa” của Nguyễn Thành Long là người có tinh thần khiêm tốn. Em có suy nghĩ gì về lòng khiêm tốn của giới trẻ hiện nay?

Đề 3: Trong bài “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải tác giả đã thể hiện ước nguyện chân thành muốn cống hiến một phần công sức của mình vào mùa xuân của đất nước. Em có suy nghĩ gì về lí tưởng sống của giới trẻ hiện nay?

b) Cách làm bài văn nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học.

– Giới thiệu được vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học

– Nêu vấn đề cần nghị luận

Vì đây là dạng đề tích hợp nên vấn đề xã hội ở đây có thể là tư tưởng đạo lí hoặc hiện tượng đời sống. Nên tùy theo từng dạng đề mà áp dụng các thao tác nghị luận khác nhau. Tuy nhiên đều phải làm rõ hai phần trọng tâm cơ bản: giải thích và rút ra vấn đề đặt ra trong tác phẩm, nghị luận về một vấn đề xã hội.

Phần 1: Giải thích và rút ra vấn đề đặt ra trong tác phẩm văn học

Trước tiên phải phân tích làm rõ được vấn đề đặt ra trong tác phẩm văn học ở đây là gì? Từ đó mới có thể xác định được nội dung chính và hướng làm bài cần thiết ở phần 2.

Ví dụ: Từ nhân vật anh thanh niên trong truyện ngắn “Lặng lẽ Sapa” của Nguyễn Thành Long em có suy nghĩ gì về trách nhiệm của thanh niên hiện nay trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Chúng ta cần phải xác định được nhân vật anh thanh niên có những phẩm chất gì? Sau đó mới so sánh với giới trẻ hiện nay. Cụ thể anh thanh niên là người có lí tưởng sống cao đẹp, yêu nghề và có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc, khiêm tốn, tinh thần lạc quan yêu đời, quan tâm, chu đáo, hiếu khách. Những phẩm chất của anh thanh niên liệu giới trẻ có không? Thực trạng của giới trẻ hiện nay là gì?

Từ phần một chuyển sang phần hai, học sinh cần có một câu chuyển ý phù hợp, đặc sắc.

Khi đã xác định được vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học ở phần 1 học sinh chuyển sang phần 2, ở phần này các em làm tương tự như cách làm văn nghị luận về một tư tưởng đạo lí và nghị luận về một hiện tượng đời sống.

Nếu vấn đề xã hội xác định là tư tưởng đạo lí thì các em sẽ vận dụng theo các bước.

– Giải thích khái niệm

– Phân tích, lí giải

– Bài học nhận thức và liên hệ bản thân.

Nếu vấn đề xã hội xác định là hiện tượng đời sống thì các em sẽ vận dụng theo các bước.

– Thực trạng (tích cực, tiêu cực)

-Nguyên nhân

-Liên hệ bản thân.

Ví dụ: Từ đức tính khiêm tốn của nhân vật anh thanh niên trong truyện ngắn “Lặng lẽ Sapa” của Nguyễn Thành Long em có suy nghĩ gì về tính khiêm tốn của giới trẻ hiện nay?

2. Nghị luận xã hội dưới dạng một câu chuyện

Gia sư Văn hướng dẫn học sinh cách làm văn nghị luận xã hội

a) Đặc điểm cơ bản của văn nghị luận xã hội dưới dạng câu chuyện

Đây là dạng nghị luận xã hội khó và hay dùng để kiểm tra kiến thức năng lực của học sinh giỏi hoặc thi chuyên. Đề bài thường dưới dạng một câu chuyện mang một vấn đề, một triết lí xã hội sâu sắc hướng tới người đọc. Ở dạng đề này học sinh phải có kỹ năng phân tích, đánh giá và cảm nhận để có thể tìm ra được chính xác nội dung câu chuyện hướng tới là gì? Từ đó mới có thể định hướng cho mình cách làm bài trong toàn bài.

Quê mình mùa lũ, trời mưa nước ngập trắng đường. Hồi đó con chập chững vào lớp một, ngày ngày vượt hai cây số đến trường. Có bữa mưa giăng đầy trời, nước ngập đến gối. Con nhìn ra rơm rớm. Mẹ bảo:

– Thôi hôm nay để mẹ cõng.

Mẹ cắp chiếc nón lá, cõng con trên lưng vượt qua dòng nước.

Con đậu Đại học, ra trường lấy được cô vợ thành đạt. Cuối tuần con đưa mẹ đến siêu thị.

– Thôi đường ngược chiều rồi. Mẹ chịu khó tự vào. Tiền nè. Con có việc phải đi.

(Theo nguồn Internet)

Hãy trình bày suy nghĩ của em về câu chuyện trên.

Titanic là con tàu lớn nhất thế giới vào thời điểm nó ra đời (1912). Với kĩ thuật chế tạo hiện đại nhất thời ấy, Titanic được coi là con tàu “không thể chìm”. Tuy nhiên trong lần ra khơi đầu tiên, con tàu này đã va vào băng và bị chìm khiến hơn 1.500 người thiệt mạng.

Trong bức ảnh thứ nhất, người ta thấy chiếc tàu bị vỡ khi va vào tảng băng, bên dưới có dòng chữ: Sự yếu đuối của con người và sức mạnh của thiên nhiên.

Còn bức ảnh thứ hai, người ta lại thấy có một người đàn ông nhường chiếc phao cứu sinh của mình cho người đàn bà đang bế con trên tay. Lần này, bức ảnh được chú thích bằng dòng chữ: Sự yếu đuối của thiên nhiên và sức mạnh của con người.

(Dực theo sách Phép màu nhiệm của đời, tên chuyện do người ra đề đặt)

Em có suy nghĩ gì về những dòng chữ chú thích cho 2 bức ảnh nói trên?

b) Cách làm bài nghị luận xã hội dưới dạng một câu chuyện

Ở dạng đề này cũng giống như nghị luận xã hội về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học, vấn đề xã hội ở đây có thể là tư tưởng đạo lí hoặc hiện tượng đời sống. Dạng đề làm tuân thủ theo hai bước quan trọng là: Phân tích nêu ngắn gọn nội dung câu chuyện, thực hiện thao tác nghị luận giống tư tưởng đạo lí, hiện tượng đời sông.

– Nêu vấn đề cần bàn luận

Phần 1: Phân tích văn tắt nội dung câu chuyện

Phần 2: Thao tác nghị luận giống như tư tưởng đạo lí, hiện tượng đời sông.

Tùy thuộc vào từng dạng đề các em làm tương tự giống như trên.

Đây là hai dạng đề khó nhất trong chương trình làm văn 9, Đội ngũ gia sư Văn chúng tôi hi vọng những kiến thức về đặc điểm và cách làm hai dạng đề trên có thể giúp các em viết một bài văn trôi chảy, mượt mà để đạt điểm tối đa. Chúc các em thành công.

Hướng Dẫn Cách Viết Đoạn Văn Nghị Luận Xã Hội Thông Dụng

Một số lưu ý trong cách viết đoạn văn nghị luận xã hội

Với cách viết đoạn văn nghị luận xã hội 200 chữ thì học sinh cần lưu ý chọn lọc những nội dung trọng tâm để viết nhằm đảm bảo số lượng chữ cũng như yêu cầu của đề. Tuy nhiên, học sinh cũng không cần rất cần phải viết đúng 200 chữ vì đó chỉ là số lượng ước chừng (khoảng tầm 20 dòng) và nếu viết hơn 1 vài dòng cũng sẽ không còn trừ điểm.

Khi trình bày một đoạn văn, học sinh cần viết hoa từ trên đầu tiên và viết lùi vào đầu dòng. Những câu tiếp theo trong đoạn cần viết tiếp nối và không được ngắt xuống dòng khi viết. Với cách viết đoạn văn nghị luận xã hội thì khi trình bày cần đảm bảo tính chính xác về chính tả, dấu câu, cách ngắt nghỉ cho phù hợp.

Khi đảm bảo được bố cục tổng quan đoạn văn, học sinh sẽ đạt được 0,25 điểm. Vì thế học sinh nên tìm hiểu cách viết đoạn văn nghị luận xã hội có đủ ba phần: mở đoạn, thân đoạn và kết đoạn. Đây là việc làm không thực sự khó khăn, vì vậy nếu học sinh để mất điểm phần bố cục tổng quan đoạn văn chỉ vì thiếu một trong ba phần trên thì rất không hề muốn.

Trong câu viết một đoạn văn nghị luận, vì giới hạn là một đoạn văn nên đề thi không bao giờ yêu cầu thí sinh phải trình bày hết tất cả những nội dung gồm có: giải thích khái niệm, phân tích và chứng minh, dẫn chứng, phản đề, bài học kinh nghiệm hành động. Thực tế cho thấy, chỉ trong 200 chữ mà phải nêu hết các phần trên như một bài văn nghị luận thu nhỏ thì rõ ràng, người viết rất khó có thể có thể trình bày cụ thể và có chiều sâu hiểu biết, suy nghĩ, cách nhìn nhận và đánh giá của member về các phần đó.

Dẫn chứng trong đoạn văn nghị luận cần nêu ra cụ thể nhất để sở hữu thể thuyết phục người đọc. Đó là việc cụ thể về tên người, thời gian, địa điểm… Nếu tốt hơn thế thì dẫn chứng nên chọn lọc từ những sự việc, con người… có tính phổ biến và có tính thời sự. Tránh nêu dẫn chứng mơ hồ, chung chung vì sẽ không còn mang lại hiệu quả cao.

Chẳng hạn, nếu đề yêu cầu người viết trình bày về tình mẫu tử thì dẫn chứng nêu ra không thể viết kiểu chung chung là: “Trong cuộc sống, có rất nhiều người mẹ đã mất lòng hi sinh vì con cháu”. Viết như vậy là đúng nhưng không mang lại tính thuyết phục. Thế nên, trong cách viết đoạn văn nghị luận xã hội thì người viết cần dẫn dắt một câu truyện cụ thể, ví dụ như câu truyện của Thiếu úy Đậu Thị Huyền Trâm vào năm 2016 ở thành phố Hà Tĩnh. Chị bị bệnh ung thu phổi khi đang mang thai con ở tuần thứ 11 nhưng đã quyết định trì hoãn điều trị ung thư để giữ lại sinh mạng của con. Sau khoản thời gian con chào đời không được bao lâu thì chị đã qua đời vì không đủ sức khỏe chống chọi lại căn bệnh quái ác.

Các bước trong cách viết đoạn văn nghị luận xã hội 200 chữ

Dạng đề nghị luận về tư tưởng đạo lí

Dạng đề nghị luận về tư tưởng đạo lí thường đưa ra những yêu cầu bàn luận về: câu nói, quan điểm sống hay phẩm chất, đức tính của con người.

Ví dụ một số đề về tư tưởng đạo lí:

Ra đề thông qua một câu nói: Bersot nói: “Trong vũ trụ có lắm kì quan, nhưng kì quan đẹp tuyệt vời nhất là trái tim người mẹ”. Ý kiến của anh/chị về câu nói trên.

Đề văn về phẩm chất, đức tính: Suy nghĩ của anh/chị về đức tính trung thực.

Dạng đề nghị luận về hiện tượng kỳ lạ đời sống

Dạng đề nghị luận về hiện tượng kỳ lạ đời sống là những vấn đề, sự việc, hiện tượng kỳ lạ có đã xẩy ra và đang xẩy ra trong cuộc sống của con người.

Một số đề ví dụ về hiện tượng kỳ lạ đời sống như:

Trình bày suy nghĩ về vấn đề sử dụng ngôn ngữ giao tiếp của học sinh hiện nay.

Anh/chị có suy nghĩ gì về trách nhiệm của tuổi trẻ học đường để góp phần giảm thiểu tai nạn thương tâm giao thông?

Nhận xét: Mỗi một vấn đề được đưa ra có thể là đạo lí, hiện tượng kỳ lạ tích cực, nhưng cũng luôn tồn tại thể là hiện tượng kỳ lạ tiêu cực, tư tưởng phản nhân văn. Trước mỗi vấn đề người viết cũng cần phải xác định đúng tính chất, đặc điểm của nó để sở hữu thể thể hiện quan điểm đồng tình hay là không đồng tình một cách rõ ràng. Ví dụ một số vấn đề tích cực hay tiêu cực có thể được đưa ra như:

Đạo lí, tư tưởng:

Đạo lí, tư tưởng tích cực: lòng dũng cảm, khoan dung, ý chí, nghị lực.

Tư tưởng phản nhân văn: thù hận, ích kỷ, đố kỵ, dối trá.

Tư tưởng có tính hai mặt: sự mong đợi.

Hiện tượng kỳ lạ đời sống:

Tích cực: tiếp sức ngày thu, hiến máu nhân đạo.

Tiêu cực: đấm đá bạo lực học đường, ô nhiễm môi trường tự nhiên, tai nạn thương tâm giao thông.

Có cả tích cực và tiêu cực: sử dụng social, thiết bị điện tử.

Như đã đề cập trong phần trên, khi đưa ra yêu cầu viết đoạn văn thì đề được ra sẽ không còn làm khó người viết trình bày hết những nội dung cần viết trong như một bài văn nghị luận. Mỗi đề thi thường sẽ sở hữu một yêu cầu cụ thể về việc người viết cần tập trung vào phần viết nào của vấn đề nghị luận. Chẳng hạn, trong đề thi Ngữ văn trong kì thi trung học phổ thông Quốc gia năm 2017 có yêu cầu câu viết đoạn văn như sau: Từ nội dung đoạn trích phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng tầm 200 chữ) trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của việc thấu cảm trong cuộc sống.

Như vậy, trong đề văn trên, yêu cầu trọng tâm là nêu ý nghĩa của sự thấu cảm, tức là trong nội dung bài viết, người viết cần xoáy sâu vào những giá trị tốt đẹp, tích cực hay tác dụng, giá trị mà đức tính ấy mang lại cho cuộc sống con người. Trong tiếng Anh, khi tất cả chúng ta nêu ra các ý nghĩa như yêu cầu thì tức là đang trả lời cho vướng mắc “What” (Sự thấu cảm mang lại ý nghĩa gì?).

Với vướng mắc “điều bản thân cần làm” thì đề đang hướng người đọc đến việc trình bày giải pháp. Lúc này, người viết sẽ tập trung trình bày những việc làm có thể thực hiện thay vì đi sâu phân tích ý nghĩa của sự thấu cảm như đề thi 2017. Như vậy, khi nêu ra giải pháp, tất cả chúng ta đang thực hiện yêu cầu đề dựa vào vướng mắc “How” (Điều bản thân cần làm thế nào để thể hiện sự thấu cảm?).

Như vậy, với bất kì một đề thi nào được ra, để xác định đúng yêu cầu đề, người viết cần tìm được từ chìa khóa xuất hiện trong đề. Ví dụ như:

Giải thích, nêu nguyên nhân : tại sao, do đâu, trình bày nguyên nhân, trình bày cách hiểu, giải thích…

Nêu ý kiến member: đồng tình hay là không đồng tình, nêu suy nghĩ member, trình bày ý kiến bản thân…

Bàn nội dung: nêu ý nghĩa, nêu giá trị…

Đưa giải pháp: làm thế nào, làm thế nào, điều cần làm…

Mỗi từ chìa khóa sẽ là một gợi ý để học sinh có định hướng đúng và viết tốt phần đoạn văn.

Sau khoản thời gian xác định được trọng tâm cần viết trong đoạn, tất cả chúng ta có thể lên ý tưởng về những điều cần viết xoay quanh vấn đề cần viết. Bước này cần được thực hiện trên giấy nháp để khi người viết không bị quên và bỏ sót những điều đã suy nghĩ trong đầu. Đồng thời, khi xác định những ý cần viết, người viết cũng nên dảnh chút thời gian để suy nghĩ về những dẫn chứng để minh họa cho phần lí lẽ của mình. Cách đơn giản để sở hữu thể tìm được ý cho phần viết là thử tự đặt và trả lời các vướng mắc, ví dụ như:

Vấn đề đề ra được hiểu thế nào?.

Tại sao lại cần có/ không nên có có vấn đề đó trong cuộc sống?.

Vấn đề đề ra cần được đồng tình/ phản đối hay có chỗ đồng tình, có chỗ phản đối?.

Vấn đề có những biểu hiện thế nào trong cuộc sống?.

Cần phải làm những gì để ngăn chặn/ phát huy vấn đề trên?.

Tạo mở đoạn trong cách viết đoạn văn nghị luận

Với phần mở đoạn, ta nên trực tiếp đi vào việc thay vì dẫn dắt dài dòng, lan man. Học sinh nên mở đoạn trong phạm vi 1 câu vì giới hạn viết chỉ là một đoạn văn ngắn. Người viết có thể trích dẫn câu nói trong đề rồi dẫn dắt ngắn gọn và đi thẳng vào việc nghị luận.

Cách viết đoạn văn nghị luận xã hội về tư tưởng đạo lý, hiện tượng kỳ lạ đời sống

Tạo thân đoạn trong cách viết đoạn văn nghị luận

Trong phần này, học sinh cần xác định đúng yêu cầu đề thông qua các từ khóa. Từ việc xác định đúng từ khóa, người viết chọn phần viết phù hợp để triển khai cụ thể yêu cầu đó. Đó có thể là phần giải thích, nêu nguyên nhân, cũng luôn tồn tại thể là phần viết về ý nghĩa hay trình bày những giải pháp.

Trong những khi triển khai, để làm rõ các ý trình bày trong nội dung bài viết cần phải có cơ sở để giúp người đọc, người nghe thuyết phục. Lúc này, học sinh cần đưa ra các dẫn chứng từ thực tế. Tránh trường hợp kể dẫn chứng quá dài dòng, học sinh nên nêu ngắn gọn theo như hình thức tóm tắt dẫn chứng. Nên chọn ít nhất 1 – 2 dẫn chứng để minh chứng cho điều đã viết. Khi đưa ra dẫn chứng là người viết đang thể hiện được việc “nói có sách, mách có chứng”, có như vậy mới có thể tạo lấy được lòng tin cho những người đọc về phần viết của mình.

Dạng đề giải thích, nêu nguyên nhân:

Giải thích ngắn gọn vấn đề được yêu cầu nghị luận.

Nêu nguyên nhân trên hai cơ sở: Khách quan và chủ quan.

Nêu 1 – 2 dẫn chứng chứng minh.

Dạng đề nêu biểu hiện, thực trạng:

Trình bày biểu hiện của vấn đề trên phương diện từ nhỏ đến lớn (member, tập thể, cộng đồng)

Nêu 1 – 2 dẫn chứng về biểu hiện đó trong cuộc sống.

Dạng nêu ý kiến member:

Trả lời rõ ràng: đồng tình hay là không đồng tình, đồng tình một phần hay phản đối.

Lí giải vì sao đưa ra ý kiến trên. Ý kiến member được khuyến khích trình bày nhưng phải nhờ trên cơ sở của chuẩn mực đạo đức và pháp luật.

Nêu 1 – 2 dẫn chứng để làm sáng tỏ ý kiến.

Dạng đề nêu ý nghĩa, giá trị vấn đề:

Nêu những ý nghĩa của vấn đề khi đối chiếu với bản thân, tập thể, xã hội.

Nêu ý nghĩa của vấn đề theo trục thời gian: quá khứ, hiện tại và tương lai.

Nêu 1 – 2 dẫn chứng để tăng tính thuyết phục.

Dạng đề nêu giải pháp:

Đề xuất giải pháp: với cộng đồng, xã hội và từng người.

Nêu 1 – 2 dẫn chứng.

Tạo kết đoạn trong cách viết đoạn văn nghị luận

Viết trong một câu văn và trong câu văn nên chuyển tải thông điệp để tạo điểm nhấn. Câu kết đoạn cũng luôn tồn tại thể trích lại một lời phát biểu, một câu nói của người nổi tiếng để mang lại ấn tượng và hiệu quả.

Tu khoa lien quan:

cách viết đoạn văn nghị luận lớp 7

cách viết đoạn văn nghị luận lớp 8

cách viết đoạn văn nghị luận lớp 10

cách viết đoạn văn nghị luận văn học

cách viết một đoạn văn nghị luận xã hội

sơ đồ cấu trúc đoạn văn nghị luận xã hội

cách viết đoạn văn nghị luận xã hội lớp 9

cách làm đoạn văn nghị luận xã hội lớp 9

cách viết đoạn văn nghị luận xã hội 200 chữ

cách viết đoạn văn nghị luận về hiện tượng kỳ lạ đời sống

Bạn đang xem bài viết Ôn Thi Vào 10: Cách Viết Đoạn Văn Nghị Luận Văn Học Lớp 9 trên website Toiyeucogaihalan.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!