Xem Nhiều 2/2023 #️ Một Số Vấn Đề Về Thủ Tục Rút Gọn Trong Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự Năm 2022 # Top 9 Trend | Toiyeucogaihalan.com

Xem Nhiều 2/2023 # Một Số Vấn Đề Về Thủ Tục Rút Gọn Trong Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự Năm 2022 # Top 9 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Một Số Vấn Đề Về Thủ Tục Rút Gọn Trong Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự Năm 2022 mới nhất trên website Toiyeucogaihalan.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

HỒ NGUYỄN QUÂN

Trong số các vụ án được Toà án nhân dân các cấp thụ lý, giải quyết hàng năm có không ít vụ án có nội dung đơn giản, chứng cứ rõ ràng, bị đơn không phản đối yêu cầu của nguyên đơn hoặc các tranh chấp về tài sản có giá ngạch thấp. Tuy nhiên, những vụ việc này vẫn phải tiến hành theo một trình tự thủ tục tố tụng thông thường. Hệ quả là thời gian giải quyết vụ kiện sẽ bị kéo dài hoặc phải trải qua nhiều cấp xét xử một cách không cần thiết gây mất thời gian, tổn phí cho các đương sự và Nhà nước. Nhận thức được thực trạng này, thể chế hóa đường lối chỉ đạo của Đảng và Nhà nước tại Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và Hiến pháp năm 2013. Bộ luật tố tụng dân sự được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 25 tháng 11 năm 2015, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 đã dành hai chương quy định về thủ tục rút gọn để giải quyết một số loại vụ án khi đáp ứng các điều kiện nhất định. Đây là một chế định hoàn toàn mới. I. KHÁI QUÁT VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG DÂN SỰ RÚT GỌN 1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự 1.1. Khái niệm thủ tục tố tụng dân sự rút gọn

A. Chung Thẩm: 1. Những việc kiện dân sự, thương sự về động sản mà giá ngạch do nguyên đơn định không quá 150 đồng. 2. Những việc kiện về các khoản lệ phí đã phát sinh ra trước Toà án ấy không có giá ngạch nào. B. Sơ thẩm: Những việc dân sự hay thương sự về động sản mà giá ngạch do nguyên đơn định trên 150 đồng nhưng dưới 450 đồng.

Theo quy định tại Điều thứ 11 Sắc lệnh 51/SL thì về dân sự và thương sự Toà án đệ nhị cấp có quyền xét xử:

A. Chung thẩm

1. Những án của toà sơ cấp bị kháng cáo

2. Những việc kiện về bất động sản mà giá ngạch theo thời giá hôm khởi tố.

3. Những việc kiện về động sản mà giá ngạch trên 450 đồng nhưng dưới 750 đồng.

B. Sơ thẩm:

1. Những việc kiện về bất động sản mà giá ngạch theo thời giá hôm khởi tố hay theo văn tự trên 150 đồng;

2. Những việc kiện về động sản mà giá ngạch trên 750 đồng;

3. Những việc kiện không thể định trước được giá ngạch;

4. Những việc kiện không cứ giá ngạch là bao nhiêu mà phải có án nghị về thẩm quyền;

5. Những việc kiện có quan hệ đến thân phận hay căn cước của người hoặc vấn đề tế tự.

Trích báo cáo tổng kết ngành Tòa án các năm từ 2005 đến 2009. [2] Trích số liệu từ Báo cáo tóm tắt ngày 18/01/2013 của Tòa án nhân dân Tối cao về công tác năm 2012 và nhiệm vụ trọng tâm công tác năm 2013của ngành Tòa án nhân dân. [3] Trích số liệu từ Báo cáo tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2014, triển khai nhiệm vụ năm 2015 của ngành Tòa án nhân dân. [4] Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao. (http://www.toaan.gov.vn/).

Chế Định Mới Về Thủ Tục Rút Gọn Trong Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự Năm 2022

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016, đã dành riêng Phần thứ 4 từ Điều 316 đến Điều 324 quy định về giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn ở cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm. Bài viết này phân tích cơ sở xây dựng chế định thủ tục rút gọn, từ đó đánh giá tính hợp lý trong các quy định về thủ tục rút gọn trong Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành.

1. Cơ sở xây dựng chế định thủ tục rút gọn trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam

Chế định thủ tục rút gọn trong BLTTDS 2015 ra đời xuất phát từ nhu cầu nội tại của các điều kiện kinh tế – xã hội.

Trước hết, việc xây dựng thủ tục rút gọn xuất phát từ nhu cầu đảm bảo tính hiệu quả của hệ thống tư pháp.

Hoạt động của hệ thống tư pháp, cũng giống như hoạt động của bất kỳ một tổ chức nào trong xã hội, đều cần có tính hiệu quả. Tính hiệu quả của pháp luật nói chung và hoạt động của hệ thống tư pháp nói riêng đã là đối tượng nghiên cứu của triết lý kinh tế luật từ những năm 60 của thế kỷ trước[1].

Theo trường phái này, hiệu quả của hoạt động xét xử không chỉ được căn cứ vào khả năng giải quyết tốt các tranh chấp mà còn thể hiện ở hiệu quả của các quy phạm pháp luật[2]. Xuất phát từ quan điểm việc phân tích về trình tự, thủ tục pháp lý trong tố tụng cũng giống như việc nhà kinh doanh tính toán về hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty mình[3], triết lý kinh tế luật cho rằng mục đích của hệ thống tố tụng nhìn từ góc độ kinh tế học là nhằm giảm thiểu rủi ro xảy ra các sơ suất trong quá trình xét xử và cả chi phí để vận hành hệ thống đó nữa[4]. Do đó, việc xác định quy trình tố tụng cần phải cân nhắc đến tính hài hòa giữa chi phí bỏ ra để vận hành bộ máy tố tụng với những lợi ích được bảo vệ nhờ sự hoạt động của bộ máy tố tụng này.

Căn cứ vào lý thuyết này có thể thấy nếu một lượng nguồn lực xã hội với nghĩa là các khoản tài chính, nhân lực, thời gian … được sử dụng vào một mục đích đem lại kết quả có giá trị là A mà cùng với lượng nguồn lực đó nếu sử dụng vào mục đích khác đem lại giá trị là A+ lớn hơn A thì như vậy là nguồn lực này đã không được sử dụng một cách hiệu quả nhất, còn nếu trong trường hợp A có giá trị nhỏ hơn lượng nguồn lực đã bỏ ra thì đấy là sự lãng phí nguồn lực xã hội. Trong việc xây dựng thủ tục rút gọn, sự so sánh này là giữa một bên là những lợi ích không lớn cần phải bảo vệ và một bên là những hao tổn, chi phí của nhà nước và đương sự nếu việc giải quyết vụ án phải trải qua nhiều giai đoạn, nhiều cấp xét xử[5].

Thủ tục rút gọn được xây dựng để giải quyết các vụ án có tình tiết đơn giản, rõ ràng hoặc có giá trị tranh chấp thấp giúp tiết kiệm chi phí tố tụng. Thủ tục tố tụng thông thường đảm bảo ở mức độ cao khả năng tìm kiếm và bảo vệ công lý đối với các vụ án dân sự được áp dụng. Tuy nhiên, việc áp dụng thủ tục thông thường đối với các vụ án đơn giản, rõ ràng, hoặc có giá trị tranh chấp thấp là một sự lãng phí về thời gian và tiền do phải trải qua nhiều hoạt động tố tụng không cần thiết hoặc thời gian tố tụng kéo dài. Việc áp dụng thủ tục rút gọn trong các trường hợp này đảm bảo được tính phù hợp giữa nhu cầu giải quyết vụ án và phương thức giải quyết vụ án, từ đó đảm bảo được hiệu quả của hoạt động tố tụng.

Thứ hai, việc xây dựng thủ tục rút gọn xuất phát từ nhu cầu của quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một phần tất yếu trong công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay. Phát triển về kinh tế đòi hỏi những thay đổi tương ứng trong các thiết chế xã hội để phù hợp với nó. Sự tăng trưởng kinh tế, gia tăng các quan hệ kinh doanh thương mại đồng nghĩa với khả năng xảy ra các tranh chấp dân sự nói ch ng, tranh chấp kinh doanh thương mại nói riêng, và pháp luật tố tụng dân sự, với vai trò là một cơ chế giải quyết các tranh chấp dân sự theo nghĩa rộng, cần phải có những thay đổi nhất định.

Thực tiễn xét xử trong những năm vừa qua cho thấy, cùng với sự phát triển của nền kinh tế từ những năm sau đổi mới, các tranh chấp về dân sự, thương mại diễn ra ngày càng nhiều về số lượng và phức tạp về nội dung. Các vụ án dân sự mà tòa án nhân dân các cấp thụ lý đã tăng từ 223.228 vụ năm 2005 lên đến 395.415 vụ năm 2013 trong đó số lượng các vụ án tòa án nhân dân cấp sơ thẩm thụ lý và giải quyết là rất lớn, thường chiếm trên 90% số lượng án giải quyết của toàn hệ thống, cùng với đó là số lượng án còn tồn đọng của tòa án các cấp cũng còn nhiều[6].

Như vậy, thời gian giải quyết tranh chấp ngắn là một trong những yêu cầu quan trọng của quá trình phát triển kinh tế thị trường đặt ra đối với pháp luật tố tụng dân sự. Chỉ khi có cơ chế giải quyết tranh chấp linh hoạt, mềm dẻo, nhanh gọn thì mới có thể tạo được niềm tin cho các doanh nghiệp, doanh nhân an tâm đầu tư, phát triển sản xuất[7]. Việc xây dựng thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự, vì thế có ý nghĩa lớn trong việc giảm thời gian giải quyết tranh chấp, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.

Thứ ba, việc xây dựng thủ tục rút gọn xuất phát từ tính đa dạng của các tranh chấp trong thực tiễn đời sống xã hội

Xu hướng chung của pháp luật tố tụng dân sự là quy định một cách chặt chẽ các bước tiến hành tố tụng để đảm bảo bất kỳ một vụ án dân sự nào khi được giải quyết bằng quy trình đó sẽ có khả năng cao nhất đạt được mục đích của tố tụng dân sự là bảo vệ công lý, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên đương sự. Tuy nhiên, thực tiễn các tranh chấp dân sự trong xã hội mang tính đa dạng, có những tranh chấp phức tạp, nhiều quan hệ pháp luật dân sự chồng chéo, nhiều chủ thể trong tranh chấp nhưng cũng có những tranh chấp đơn giản, dễ dàng xác định các quan hệ pháp luật dân sự; có những vụ tranh chấp nhiều nghìn tỷ đồng nhưng cũng có những tranh chấp chỉ vài trăm ngàn đồng, có những tranh chấp mà các chứng cứ khó thu thập, cần phải giám định, định giá nhưng có những vụ án mà các bên đều thống nhất về giá trị tranh chấp, chứng cứ rõ ràng, đầy đủ…Việc áp dụng chung các tranh chấp dân sự với cùng một thủ tục tố tụng, cùng thời gian giải quyết tranh chấp sẽ là không hợp lý bởi nhu cầu giải quyết đối với từng loại vụ án là khác nhau.

Thực tiễn giải quyết các tranh chấp dân sự cho thấy có nhiều loại vụ việc có nhu cầu giải quyết bằng một thủ tục đơn giản hơn so với thủ tục tố tụng thông thường, gồm những vụ kiện có nội dung đơn giản, chứng cứ rõ ràng, các sự kiện đã được xác định, không cần phải thu thập thêm chứng cứ hoặc có giá trị tranh chấp thấp. Các loại việc này bao gồm: những vụ kiện mà các bên không có tranh chấp về nghĩa vụ phải thực hiện nhưng bị đơn không chịu thực hiện nghĩa vụ của mình; Những tranh chấp có chứng cứ đầy đủ, rõ ràng, các sự kiện đã được xác định, việc giải quyết tranh chấp không cần xác minh, thu thập thêm chứng cứ; Những vụ kiện có giá trị tranh chấp thấp[9].

2. Các quy định cụ thể về thủ tục rút gọn trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 – Một số đánh giá và kiến nghị

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016, đã dành riêng phần thứ 4 từ Điều 316 đến Điều 324 quy định về giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn ở cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm. Các quy định về thủ tục rút gọn không chỉ đảm bảo tính phù hợp với nhu cầu phát triển của xã hội, phù hợp với triết lý xây dựng thủ tục rút gọn trong khoa học pháp lý mà còn có sự kế thừa và phát triển truyền thống pháp luật của Việt Nam.

Theo đó, thủ tục rút gọn được áp dụng đối với các vụ án dân sự thỏa mãn các điều kiện sau đây:

“a) Vụ án có tình tiết đơn giản, quan hệ pháp luật rõ ràng, đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ; tài liệu, chứng cứ đầy đủ, bảo đảm đủ căn cứ để giải quyết vụ án và Tòa án không phải thu thập tài liệu, chứng cứ;

b) Các đương sự đều có địa chỉ nơi cư trú, trụ sở rõ ràng;

c) Không có đương sự cư trú ở nước ngoài, tài sản tranh chấp ở nước ngoài, trừ trường hợp đương sự ở nước ngoài và đương sự ở Việt Nam có thỏa thuận đề nghị Tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn hoặc các đương sự đã xuất trình được chứng cứ về quyền sở hữu hợp pháp tài sản và có thỏa thuận thống nhất về việc xử lý tài sản”[10].

Những vụ án dân sự có tình tiết đơn giản, quan hệ pháp luật dễ dàng được xác định, không cần phải thu thập thêm tài liệu, chứng cứ, không có yếu tố nước ngoài hoặc yếu tố nước ngoài không ảnh hưởng đến giải quyết nội dung vụ án…là loại vụ án có tính chất đơn giản. Loại vụ việc này chiếm một tỷ lệ lớn trong số các vụ việc dân sự mà hệ thống tòa án nhân dân phải giải quyết[11], việc giải quyết các vụ việc này theo thủ tục rút gọn sẽ tăng cường tính hiệu quả của hoạt động tư pháp, giảm thời gian và chi phí tố tụng cho người dân. Đây cũng là một loại vụ việc được áp dụng giải quyết bằng thủ tục rút gọn phổ biến trong pháp luật các nước.

Bên cạnh thủ tục giải quyết các vụ án có tính chất đơn giản, trong pháp luật các nước còn có thủ tục thanh toán séc và hối phiếu, thủ tục giải quyết khiếu kiện nhỏ. Các thủ tục này cũng cần tiếp tục được nghiên cứu để áp dụng phù hợp với Việt Nam, đảm bảo tính đa dạng của thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự, tăng cường khả năng tiếp cận công lý của người dân.

Thành phần giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn bao gồm một thẩm phán[12] và thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự theo thủ tục rút gọn cũng giống như thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự theo thủ tục thông thường. Những sửa đổi trong Hiến pháp 2013 đã cho phép việc xét xử vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn không cần tuân thủ nguyên tắc xét xử tập thể và nguyên tắc xét xử có Hội thẩm nhân dân.

Thành phần giải quyết vụ án chỉ gồm một thẩm phán là một đặc điểm nổi bật của thủ tục rút gọn. Pháp luật tố tụng các nước đều có quy định tương tự để đảm bảo tính nhanh gọn của thủ tục, phù hợp với đối tượng của hoạt động giải quyết tranh chấp.

Việc giải quyết vụ án dân sự bằng thủ tục rút gọn được trao cho tòa án nhân dân cấp huyện và các Tòa chuyên trách của tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết sơ thẩm vụ việc dân sự là phù hợp với mô hình tổ chức và hoạt động hiện tại của hệ thống tòa án nhân dân. Tổ chức bộ máy của các Tòa án theo Luật tổ chức Tòa án nhân dân 2014 được quy định theo hướng chuyên môn hóa nhưng linh hoạt, hiệu quả. Mặc dù thẩm quyền áp dụng thủ tục rút gọn trong pháp luật của nhiều nước được trao cho một tòa chuyên trách như ở Austraylia[13], Đức[14] hoặc trao cho tòa án cấp sơ thẩm thực hiện như ở Liên bang Nga[15]. Tuy nhiên, việc xây dựng và hoàn thiện chế định thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự Việt Nam vẫn còn mang tính sơ khai, thăm dò nên, việc trao thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự theo thủ tục rút gọn như quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự 2015 là hợp lý.

Thủ tục rút gọn được áp dụng cả ở hai cấp xét xử. Quyết định, bản án giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn có thể bị kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm, quyết định, bản án có hiệu lực pháp luật có thể bị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm, giám đốc thẩm. Quy định này phù hợp với nguyên tắc hai cấp xét xử được quy định tại khoản 6 Điều 103 Hiến pháp 2013.

Thủ tục rút gọn trong pháp luật các nước đều chỉ áp dụng với một số loại việc nhất định và hầu hết không áp dụng với tranh chấp về các quan hệ pháp luật có vai trò quan trọng đối với cá nhân. Tương ứng với phạm vi đó là thủ tục tố tụng rất đơn giản, hạn chế hoặc không cho phép kháng cáo để đảm bảo tính nhanh chóng của thủ tục rút gọn. Tuy nhiên, hạn chế hoặc không cho phép kháng cáo có thể ảnh hưởng đến quyền tiếp cận công lý của các đương sự. Do vậy, để đảm bảo quyền tự định đoạt của đương sự, đồng thời vẫn đảm bảo tính nhanh chóng, chế định thủ tục rút gọn trong Bộ luật tố tụng dân sự 2015 được quy định theo hướng áp dụng thủ tục rút gọn ở cả hai cấp xét xử. Với cách tiếp cận đó, thủ tục rút gọn trong Bộ luật tố tụng dân sự 2015 đã đảm bảo được tính nhanh chóng, đơn giản về thủ tục nhưng do vẫn tuân thủ nguyên tắc xét xử hai cấp nên không thể nhanh chóng giải quyết một cách triệt để một số loại vụ việc dân sự như mục đích nguyên thủy của loại thủ tục này.

Trách nhiệm cung cấp chứng cứ thuộc về người nộp đơn khởi kiện trừ các trường hợp quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Thủ tục rút gọn chỉ được áp dụng đối với các vụ kiện có tình tiết đơn giản, chứng cứ rõ ràng, do đó, trừ trường hợp ngoại lệ, các đương sự có trách nhiệm cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ để giải quyết vụ việc để từ đó thẩm phán phụ trách xem xét và ra quyết định thụ lý vụ án theo thủ tục rút gọn. Chỉ khi các tài liệu chứng cứ được nộp cùng đơn khởi kiện cho thấy vụ án có tình tiết đơn giản, rõ ràng thì vụ việc mới giải quyết theo thủ tục rút gọn, trong trường hợp phát sinh nhu cầu cần tòa án thực hiện các biện pháp thu thập chứng cứ thì đây sẽ là một trong các căn cứ để chuyển vụ việc sang giải quyết theo thủ tục tố tụng thông thường.

Lệ phí, án phí và các chi phí tố tụng khác trong thủ tục rút gọn được áp dụng như trong thủ tục thông thường. Quy định về các chi phí tố tụng được xác định theo cách này sẽ không khuyến khích các bên tranh chấp yêu cầu tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn. Tuy nhiên, theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, các vụ việc khi có đủ điều kiện sẽ được áp dụng thủ tục rút gọn mà không phụ thuộc vào ý chí của đương sự như quy định ở một số quốc gia khác nên nhìn chung quy định này không làm ảnh hưởng đến hiệu quả của thủ tục rút gọn.

Các quy định về thủ tục rút gọn trong Bộ luật tố tụng dân sự 2015 như hiện nay có tính khả thi cao nhờ vẫn đảm bảo mô hình hai cấp xét xử, quy định một loại thủ tục rút gọn giải quyết các vụ việc dân sự có tính đơn giản, rõ ràng. Tuy nhiên, trong tương lai, chế định này cần được tiếp tục quy định theo hướng bổ sung một hoặc một số loại thủ tục rút gọn nữa áp dụng cho các loại tranh chấp dân sự đặc thù như yêu cầu thanh toán nợ, thủ tục ra lệnh thực hiện một công việc…; đồng thời, không cho phép hoặc hạn chế quyền kháng cáo, kháng nghị đối với bản án, quyết định sơ thẩm thủ tục rút gọn kết hợp với việc xác định phạm vi các quan hệ pháp luật không được áp dụng thủ tục rút gọn.

Ở thời điểm hiện tại, để đảm bảo hiệu quả thực thi thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự, cần phải hoàn thiện một số vấn đề sau:

Qua nghiên cứu kinh nghiệm pháp luật về thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự ở các nước trên thế giới có thể thấy mối tương quan giữa phạm vi áp dụng và hiệu lực của quyết định, bản án trong thủ tục rút gọn. Hầu hết các quốc gia đều không cho phép kháng cáo bản án, quyết định trong thủ tục rút gọn (Cộng hòa Liên bang Đức, Vương quốc Anh) hoặc nếu bị đơn phản đối thì vụ án chuyển sang thủ tục tố tụng thông thường và bắt đầu lại từ đầu (Cộng hòa liên bang Nga)… Phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn ở các nước này cũng được quy định cụ thể từng loại việc và không bao gồm những vụ việc có khả năng ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của các đương sự như hợp đồng lao động, ly hôn, nghĩa vụ cấp dưỡng… Cách quy định này cho phép giải quyết nhanh chóng, dứt điểm một số tranh chấp thông dụng, không có giá trị lớn, rõ ràng.

Thứ hai, về cơ chế chuyển đổi giữa các loại thủ tục tố tụng

Cần xác định yếu tố “cần phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời” không phải là một điều kiện để chuyển đổi từ thủ tục rút gọn sang thủ tục tố tụng thông thường. Ngoài ra, cần bổ sung cơ chế chuyển đổi từ thủ tục thông thường sang thủ tục rút gọn để đảm bảo tính hợp lý trong quy trình tố tụng.

Thủ tục rút gọn, trong thời kỳ đầu được áp dụng, đã được đánh giá là một biện pháp để giải quyết sự chậm trễ và tồn đọng án ở tòa án[17], cho đến nay vẫn được coi là một công cụ hiệu quả nhằm giải quyết nhanh chóng và đơn giản một tỷ lệ khá lớn các vụ án, cần được tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện trong thời gian tới để phát huy hiệu quả trong giải quyết các tranh chấp dân sự.

[1] Lê Nết (2006), Kinh tế luật, Tri Thức, Hồ Chí Minh tr 15.

[2] Mai Hồng Quỳ (1999), ” Thực tiễn tranh chấp kinh tế với việc hoàn thiện pháp luật kinh doanh”, Đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ cấp Bộ, Hồ Chí Minh Tr.89

[3] Lê Nết (2006), Kinh tế luật, Tri Thức, Hồ Chí Minh, tr.20.

[4] Richard .A. Posner (2003), Economic Analysis of Law, Aspen Publishers, tr.517.

[5] Nguyễn Thị Thu Thủy (2011), ” Khả năng áp dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự ở Việt Nam”, Nhà nước và Pháp luật. 11, tr. 37-42, tr.38.

[6] Dự án “Tăng cường tiếp cận công lý và bảo vệ quyền tại Việt Nam” (2015), Tài liệu hội thảo Góp ý Dự thảo báo cáo “Nghiên cứu và đề xuất cơ chế, mô hình giải quyết tranh chấp dân sự theo thủ tục rút gọn tại tòa án Việt Nam”, Hà Nội tr. 22.

[7] Đào Văn Hội (2004), Hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội tr. 52-54.

[8] Dự án “Tăng cường tiếp cận công lý và bảo vệ quyền tại Việt Nam” (2015), Tài liệu hội thảo Góp ý Dự thảo báo cáo “Nghiên cứu và đề xuất cơ chế, mô hình giải quyết tranh chấp dân sự theo thủ tục rút gọn tại tòa án Việt Nam”, Hà Nội tr.28.

[10] Điều 317 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

[12] Điều 65 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

[13] Trần Anh Tuấn (2015), Tham luận hội thảo Góp ý dự thảo báo cáo “Nghiên cứu và đề xuất cơ chế, mô hình giải quyết tranh chấp dân sự theo thủ tục rút gọn tại Tòa án Việt Nam”, Hà Nội tr.6.

[14] Tlđd, tr.5.

[15] Điều 23 BLTTDS Liên bang Nga quy định việc ban hành lệnh của tòa án thuộc thẩm quyền của thẩm phán hòa giải xét xử ở cấp sơ thẩm.

[16] Dự án “Tăng cường tiếp cận công lý và bảo vệ quyền tại Việt Nam” (2015), Tài liệu hội thảo Góp ý Dự thảo báo cáo “Nghiên cứu và đề xuất cơ chế, mô hình giải quyết tranh chấp dân sự theo thủ tục rút gọn tại tòa án Việt Nam”, Hà Nội tr.35

SOURCE: TẠP CHÍ THANH TRA SỐ 2/2017, TR. 18-21

CÁM ƠN TÁC GIẢ ĐÃ CHIA SẺ BÀI VIẾT

Khả Năng Áp Dụng Thủ Tục Rút Gọn Trong Tố Tụng Dân Sự Ở Việt Nam

Với những vụ án dân sự cần giải quyết có đặc điểm là tất cả các chứng cứ chứng minh sự thật đều rõ ràng, sự thật của vụ án dễ dàng được nhận biết hoặc chỉ sau một số hoạt động xác minh đơn giản thì nhu cầu đi tìm sự thật trên không còn đặt ra nữa mà vấn đề duy nhất còn lại là có sự phán xét nhân danh Nhà nước nhằm xác định quyền và nghĩa vụ của các bên mà thôi. Đó chính là nhu cầu để xây dựng thủ tục rút gọn.

1. Khái niệm thủ tục tố tụng rút gọn

Thủ tục rút gọn, với chức năng là một quy trình tố tụng đảm bảo giải quyết nhanh gọn vụ án dân sự hơn so với quy trình tố tụng thông thường, có những đặc điểm đặc trưng sau:

Thứ nhất, về hình thức, thủ tục tố tụng rút gọn có thể là một thủ tục chung hoặc áp dụng riêng cho một loại quyết định cụ thể, ví dụ: “thủ tục ra lệnh thanh toán”, “thủ tục ra lệnh buộc làm một công việc” (Pháp, Đức, Mỹ, Nhật Bản, Nga, Đài Loan…).

Thứ hai, thủ tục tố tụng rút gọn có thể là một phần trong trình tự tố tụng thông thường được rút gọn hoặc là một trình tự tố tụng rút gọn bên cạnh thủ tục tố tụng thông thường. Bộ luật Tố tụng Dân sự Pháp xây dựng những thủ tục xét xử nhanh để giải quyết một số tranh chấp mang tính đặc thù hoặc đơn giản bên cạnh thủ tục xét xử thông thường.

Thứ ba, thủ tục rút gọn giảm thiểu các yếu tố không cần thiết phù hợp với tính chất của loại vụ án dân sự được áp dụng. Những hoạt động tố tụng vốn là yếu tố không thể thiếu trong hoạt động tìm kiếm và chứng minh sự thật khách quan ở thủ tục tố tụng thông thường đều có thể bị giản lược.

Thứ tư, bản án, quyết định của tòa án có giá trị chung thẩm. Điều này đảm bảo rằng vụ án dân sự sẽ không bị kéo dài về thời gian giải quyết, hạn chế được những thiệt hại không cần thiết cho xã hội.

Thứ năm, thủ tục rút gọn là một cơ chế mở mà các đương sự được quyền lựa chọn. Với những trường hợp thuộc phạm vi được xét xử theo thủ tục rút gọn, các đương sự vẫn có quyền lựa chọn được xét xử theo thủ tục rút gọn hoặc theo thủ tục tố tụng thông thường. Bộ luật Tố tụng Dân sự Cộng hòa Liên bang Đức cho phép chủ nợ được tự do lựa chọn giữa thủ tục tố tụng thông thường với thủ tục tố tụng rút gọn.

Từ đó chúng ta có thể đi đến khái niệm về thủ tục tố tụng rút gọn như sau: thủ tục tố tụng rút gọn là dạng đơn giản hóa của thủ tục xét xử thông thường, được sử dụng để giải quyết các vụ án dân sự có chung những đặc điểm là nhỏ, đơn giản, rõ ràng và có giá trị tranh chấp nhỏ. Phán quyết và quyết định của tòa án sử dụng thủ tục tố tụng rút gọn có thể có giá trị chung thẩm.

Có thể nhận thấy, sự phổ biến của thủ tục tố tụng rút gọn trong pháp luật tố tụng dân sự các nước cũng như những hiệu quả cả về kinh tế và xã hội mà nó mang lại. Ngoài Cộng hòa Pháp – một nước có thể coi là hình mẫu tiêu biểu của các nước theo hệ thống pháp luật châu Âu lục địa, thì Australia và một số nước châu Á có điều kiện gần gũi và tương đồng với Việt Nam như Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Hàn Quốc, Singapore… đều có những quy định về thủ tục tố tụng rút gọn này. Thủ tục rút gọn tiết kiệm thời gian giải quyết vụ án hơn so với thủ tục tố tụng thông thường. Đây là hệ quả tất yếu của việc giản lược các hoạt động tố tụng và cũng là một trong những mục tiêu đầu tiên mà thủ tục rút gọn hướng tới.

Ngoài ra, chi phí dành cho việc giải quyết vụ án thấp. Đây cũng là mục tiêu của thủ tục rút gọn và là kết quả của việc giảm bớt các yếu tố ít quan trọng trong thủ tục tố tụng thông thường. Chi phí nói đến ở đây bao gồm cả chi phí từ phía các đương sự và đối với Nhà nước. Án phí, lệ phí và các chi phí tố tụng được giảm nhẹ cũng góp phần nâng cao khả năng tiếp cận công lý của các cá nhân, tổ chức trong xã hội. Chi phí từ phía Nhà nước cho hoạt động tố tụng bao gồm các chi phí về tài chính và nhân lực. Chi phí tố tụng cho thủ tục tố tụng rút gọn chỉ bằng 1/3 chi phí giải quyết việc cùng loại theo thủ tục tố tụng thông thường. Trường hợp quyết định rút gọn bị kháng cáo, thì yêu cầu thanh toán nợ được chuyển sang giải quyết theo thủ tục tố tụng thông thường và được trừ đi 1/3 chi phí tố tụng do đã nộp trước đây. Theo ước tính thì ở Cộng hòa Liên bang Đức có đến 90% số đơn yêu cầu thanh toán nợ theo thủ tục tố tụng rút gọn được thi hành án ngay, chỉ có 10% quyết định bị kháng cáo. Hàng năm, ở Đức có hàng triệu đơn yêu cầu thanh toán nợ được giải quyết theo thủ tục này.

3. Phạm vi áp dụng thủ tục tố tụng rút gọn

Mặc dù việc áp dụng thủ tục tố tụng rút gọn xuất phát từ yếu tố đơn giản, rõ ràng của vụ án nhưng không phải tất cả các trường hợp như vậy đều có thể được áp dụng thủ tục rút gọn.

Điều này xuất phát từ bản chất của việc quy định về thủ tục rút gọn. Việc xét xử nhanh chóng các vụ án có cùng một thuộc tính là sự thật rõ ràng, đơn giản mà không cần phải qua tất cả các khâu của tố tụng thông thường thực chất là sự cân đối về chi phí cơ hội của các nguồn lực xã hội. Lý thuyết về chi phí cơ hội chỉ ra rằng, nếu một lượng nguồn lực xã hội với nghĩa là các khoản tài chính, nhân lực, thời gian… được sử dụng vào một mục đích đem lại kết quả có giá trị là A mà cùng với lượng nguồn lực đó nếu sử dụng vào mục đích khác đem lại giá trị là A+ lớn hơn A, thì như vậy là nguồn lực này đã không được sử dụng một cách hiệu quả nhất; còn nếu trong trường hợp A có giá trị nhỏ hơn lượng nguồn lực đã bỏ ra thì đấy là sự lãng phí nguồn lực xã hội. Trong việc xây dựng thủ tục rút gọn, sự so sánh giữa một bên là những lợi ích không lớn cần phải bảo vệ và một bên là những hao tổn, chi phí của Nhà nước và đương sự nếu việc giải quyết vụ án phải trải qua nhiều giai đoạn, nhiều cấp xét xử. Chính vì thế, chỉ với những tranh chấp dân sự có giá trị tranh chấp nhỏ mới có thể được áp dụng xét xử theo thủ tục rút gọn.

Như vậy, các trường hợp không cần phải áp dụng thủ tục xét xử thông thường mà có thể lựa chọn áp dụng thủ tục tố tụng rút gọn là các vụ án không chỉ đảm bảo yếu tố đơn giản, sự thật rõ ràng, mà còn phải có giá trị tranh chấp nhỏ. Đơn giản về tình tiết, về chứng cứ chứng minh, về xác định quyền và nghĩa vụ các bên. Sự thật rõ ràng là việc tình tiết tranh chấp do hai bên đương sự trình bày về cơ bản là thống nhất, chứng cứ đưa ra tương đối đáng tin cậy, có sức mạnh chứng minh, không cần tòa án tiến hành công việc điều tra, thu thập chứng cứ mà vẫn có thể làm rõ được sự thật, xác định rõ được trách nhiệm, hoặc sau khi tiến hành một vài công tác điều tra thì có thể làm rõ được sự thật của vụ án.

Sự thật rõ ràng còn thể hiện qua việc xác định quyền lợi, nghĩa vụ của các bên trong quan hệ dân sự đang tranh chấp tương đối dễ dàng, đồng thời, quan hệ pháp luật về việc giải quyết tranh chấp đó cũng đã được quy định tương đối rõ.

Giá trị tranh chấp nhỏ nghĩa là hai bên không có bất đồng lớn về nguyên tắc trong tranh chấp đúng sai, trách nhiệm phải gánh chịu trong vụ án cũng như về các khoản chi phí tố tụng.

Tuy nhiên, để áp dụng ở Việt Nam thủ tục tố tụng rút gọn với tư cách là một dạng đơn giản của thủ tục tố tụng thông thường khi lược bỏ rất nhiều yếu tố: từ thời hạn giải quyết vụ án đến Hội đồng xét xử, cũng như các giai đoạn tiền tố tụng thì cần phải xét đến tính tương thích của nó với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự.

4. Thủ tục tố tụng rút gọn trong sự phát triển tố tụng dân sự Việt Nam

Khi nghiên cứu về lịch sử pháp luật tố tụng dân sự của Việt Nam, có nhiều ý kiến cho rằng đã có sự tồn tại của các yếu tố tiền đề cho thủ tục tố tụng rút gọn.

Trước hết là các quy định trong các sắc lệnh về tổ chức và thẩm quyền của tòa án nhân dân trong thời gian đầu thành lập nước.

Cùng với Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/1/1946 quy định về thẩm quyền độc lập của thẩm phán trong việc ra phán quyết đối với những loại việc nhỏ, giản đơn, Sắc lệnh số 51/SL “Ấn định thẩm quyền các tòa án và sự phân công giữa các nhân viên trong tòa án” ngày 17/4/1946 tại Điều 6 quy định quyền xét xử chung thẩm về dân sự và thương sự của toà án sơ cấp gồm những việc kiện dân sự, thương sự về động sản mà giá ngạch do nguyên đơn định không quá 150đ và những việc kiện về các khoản lệ phí đã phát sinh ra trước toà án ấy không cứ giá ngạch nào. Tòa án đệ nhị cấp cũng có quyền xét xử chung thẩm với những việc kiện về bất động sản mà giá ngạch theo thời giá hôm khởi tố hay theo văn tự không quá 150đ, những việc kiện về động sản mà giá ngạch trên 450đ nhưng dưới 750đ.

Sắc lệnh số 85/SL “Về cải cách bộ máy tư pháp và Luật tố tụng” ngày 22/5/1950 quy định tại Điều 7: Ban Tư pháp xã có quyền xử chung thẩm những việc đòi bồi thường hoặc bồi hoàn từ 300đ trở xuống do người bị thiệt hại thỉnh cầu trong đơn kiện hay chậm nhất lúc việc vi cảnh đem ra xử.

Có thể thấy, việc xác định các vụ án được xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm theo Sắc lệnh số 51/SL không phải là thủ tục rút gọn. Xác định giá ngạch của vụ án để phân cấp giải quyết chỉ mang tính chất tổ chức trong hoạt động tư pháp mà thôi. Thủ tục rút gọn không chỉ được hiểu là xét xử một cấp mà còn được hiểu là thủ tục áp dụng chung cho các vụ án có cùng tính chất, đặc điểm. Việc quy định về thủ tục rút gọn cũng phải đảm bảo quyền lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp cho đương sự, đảm bảo quyền được bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân và tổ chức. Việc quy định quyền xét xử chung thẩm của tòa án, nhưng không quy định quyền lựa chọn thủ tục tố tụng của người dân vô hình trung đã làm giảm khả năng tiếp cận công lý của công dân.

Luật Tổ chức tòa án nhân dân năm 1960 Điều 12 quy định: “Khi sơ thẩm, toà án nhân dân gồm một thẩm phán và hai hội thẩm nhân dân; trường hợp xử những vụ án nhỏ, giản đơn và không quan trọng thì toà án nhân dân có thể xử không có hội thẩm nhân dân” và Toà án nhân dân tối cao có thẩm quyền xét xử sơ thẩm những vụ án do pháp luật quy định thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân tối cao và những vụ án thuộc thẩm quyền của toà án nhân dân cấp dưới mà Toà án nhân dân tối cao lấy lên để xử (Điều 21).

Tiếp thu quy định trên của Luật Tổ chức tòa án nhân dân, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự quy định tại khoản 3 Điều 11 về Thẩm quyền của các toà án các cấp quy định: trong trường hợp đặc biệt, Toà án nhân dân tối cao giải quyết theo thủ tục sơ thẩm đồng thời chung thẩm những vụ án thuộc thẩm quyền của toà án cấp dưới mà Toà án nhân dân tối cao lấy lên để giải quyết. Hội đồng xét xử sơ thẩm hoặc sơ thẩm đồng thời chung thẩm gồm một thẩm phán và hai hội thẩm nhân dân.

Như vậy, bắt đầu từ Luật Tổ chức tòa án nhân dân 1960, pháp luật tố tụng dân sự đã xét đến việc xét xử những vụ án đơn giản, không quan trọng với việc tối giản thành phần Hội đồng xét xử và vụ án chỉ được giải quyết bởi một thẩm phán, đồng thời, việc xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm là thẩm quyền của Tòa án nhân dân tối cao. Tuy nhiên, do không có các căn cứ để xác định khả năng được áp dụng thủ tục này nên tất cả các vụ án sơ thẩm thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tối cao và những vụ án mà Tòa án nhân dân tối cao lấy lên để giải quyết dù có giá trị tranh chấp lớn, phức tạp hay đơn giản đều chỉ được xét xử một lần. Quy chế này làm hạn chế khả năng kháng cáo của công dân và tổ chức khi không đồng ý với kết quả giải quyết vụ án. Điều đó cũng có nghĩa là làm tăng khả năng gây ra các thiệt hại về tài sản và nhân thân của công dân và các tổ chức trong xã hội.

Trong thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự tại tòa án nhân dân, việc áp dụng các quy định về xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm của các tòa án nhân dân hầu như không có.

Hiện nay, theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2004 thì vụ án dân sự (có tranh chấp) và việc dân sự (không có tranh chấp) được giải quyết theo hai trình tự, thủ tục khác nhau. Sự phân định hai thủ tục này ở chỗ vụ việc dân sự có yếu tố tranh chấp hay không. Tuy nhiên, yếu tố tranh chấp không phải là cách xác định đối tượng của thủ tục rút gọn bởi lẽ, để xác định việc kết hôn trái pháp luật về tuổi kết hôn hay trái với quy định về mối quan hệ huyết thống trong nhiều trường hợp là rất phức tạp. Trong khi đó, những vụ án đòi nợ với chứng cứ rõ ràng, có sự xác nhận của hai bên và có chứng thực của Ủy ban nhân dân, hay các hóa đơn, biên lai có nguồn gốc rõ ràng, chứng minh dễ dàng thì lại phải trải qua nhiều khâu thủ tục rườm rà với thời gian dài và khả năng bị kéo dài do kháng cáo lên cấp xét xử phúc thẩm.

Như vậy, xem xét trong lịch sử phát triển pháp luật tố tụng dân sự ở nước ta, mặc dù có nhiều quy định thể hiện tính rút gọn thủ tục tố tụng trong việc giải quyết một số loại án nhất định nhưng nhìn chung, đây mới chỉ là sự giản lược ở một số yếu tố nhất định mà chưa có sự quy định một cách tổng thể về một thủ tục đặc biệt dành cho những vụ án dân sự đơn giản, rõ ràng và có giá trị tranh chấp nhỏ.

Xuất phát từ những đòi hỏi của công cuộc cải cách tư pháp và thực tiễn giải quyết các tranh chấp dân sự, kinh tế, lao động, tại Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VIII, Đảng ta đã chỉ rõ: cần phải “nghiên cứu áp dụng thủ tục tố tụng rút gọn để xét xử kịp thời một số vụ án đơn giản, rõ ràng”. Dù vậy, cho đến nay, thủ tục rút gọn mới được áp dụng trong tố tụng hình sự chứ chưa được áp dụng trong tố tụng dân sự.

Những lý do ngăn cản sự tồn tại của thủ tục tố tụng rút gọn trong pháp luật tố tụng dân sự có thể kể đến là sự không phù hợp với các nguyên tắc chung của pháp luật tố tụng dân sự, sự không hiệu quả của các thủ tục có mang nhân tố rút gọn đã từng tồn tại trong lịch sử phát triển pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.

5. Khả năng áp dụng thủ tục tố tụng rút gọn ở Việt Nam

Một trong những yếu tố ngăn cản việc áp dụng thủ tục tố tụng rút gọn trong Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) 2004 là sự không tương thích giữa cơ chế giải quyết của thủ tục rút gọn và các nguyên tắc cơ bản của BLTTDS.

– Nguyên tắc xét xử tập thể và có hội thẩm nhân dân tham gia

Về mặt tổ chức hoạt động xét xử, các tranh chấp dân sự phải tuân theo các nguyên tắc được quy định trong Hiến pháp, BLTTDS. Nguyên tắc tòa án xét xử tập thể và có hội thẩm nhân dân tham gia được quy định trong Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và được cụ thể hóa trong BLTTDS tại Điều 11 và Điều 14.

Toà án xét xử tập thể có nghĩa là việc xét xử bất cứ một vụ án nào, theo trình tự nào cũng do một Hội đồng thực hiện. Thành phần Hội đồng xét xử (HĐXX) ở mỗi cấp xét xử đối với từng loại vụ án được quy định tại các điều tương ứng trong pháp luật tố tụng: Thành phần HĐXX sơ thẩm (Điều 52 BLTTDS); Thành phần HĐXX phúc thẩm (Điều 53 BLTTDS); thành phần Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm (Điều 54 BLTTDS). Việc xét xử của toà án nhân dân có hội thẩm nhân dân tham gia, việc xét xử của toà án quân sự có hội thẩm quân nhân tham gia theo quy định của pháp luật tố tụng. Khi xét xử, hội thẩm ngang quyền với thẩm phán (Điều 129 Hiến pháp năm 1992; Điều 4 Luật Tổ chức tòa án nhân dân. Khi xét xử, hội thẩm ngang quyền với thẩm phán cần được hiểu là khi xét xử bất kỳ một vụ án nào thuộc thẩm quyền của toà án mà có hội thẩm tham gia, thì hội thẩm và thẩm phán có quyền ngang nhau trong việc giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án, không phân biệt vấn đề đó là về mặt tố tụng hay về mặt nội dung.

Nguyên tắc có hội thẩm tham gia được cụ thể hóa trong Điều 52 BLTTDS về thành phần HĐXX sơ thẩm, theo đó, HĐXX sơ thẩm gồm một thẩm phán và hai hội thẩm nhân dân, trong trường hợp đặc biệt có thể gồm hai thẩm phán và ba hội thẩm nhân dân. Nguyên tắc này thể hiện bản chất dân chủ và tính nhân dân sâu sắc của Nhà nước ta, đó là tăng cường sự giám sát của nhân dân đối với hoạt động của tòa án nhân dân các cấp.

Như vậy, xét xử tập thể và thành phần của HĐXX có hội thẩm nhân dân tham gia phải được áp dụng cho tất cả các tranh chấp dân sự. Chính vì thế, có quan điểm cho rằng, nếu quy định việc giải quyết các vụ án dân sự theo thủ tục tố tụng rút gọn bởi một thẩm phán duy nhất sẽ là sự vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc Hiến định và các nguyên tắc cơ bản của BLTTDS.

Tuy nhiên, nhìn vào lịch sử tố tụng dân sự Việt Nam có thể nhận thấy, đã có nhiều sự thay đổi trong quan niệm về HĐXX. Trước đây, theo quy định của các pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, kinh tế, lao động thì tất cả các vụ tranh chấp đều được xét xử ở tòa án cấp sơ thẩm với HĐXX gồm cả thẩm phán và hội thẩm nhân dân. Đến nay, BLTTDS 2004 đã quy định thêm một loại thủ tục đặc thù riêng để giải quyết việc dân sự. Thủ tục này quy định một thẩm phán giải quyết, trong trường hợp có yếu tố nước ngoài thì là Hội đồng gồm ba thẩm phán. Như vậy có thể thấy, việc sửa đổi các quy định của pháp luật nhằm đáp ứng và phù hợp với các cam kết quốc tế, phù hợp với thực tiễn đang được Nhà nước ta quan tâm.

Trong việc giải quyết các vụ án dân sự theo thủ tục thông thường quy định trong BLTTDS 2004, hòa giải là một thủ tục bắt buộc, trừ một số trường hợp đặc biệt. Thủ tục này do một thẩm phán phụ trách và nếu hai bên đi đến hòa giải thành thì thẩm phán ra quyết định công nhận hòa giải thành, quyết định này cũng có giá trị chung thẩm mà không cần phải có sự tham gia của hội thẩm nhân dân.

Với quy định rõ ràng về thủ tục tố tụng rút gọn áp dụng cho các vụ án dân sự trong Luật Bảo vệ người tiêu dùng, các nhà làm luật đã chấp nhận sự đột phá để cải cách pháp luật tố tụng dân sự cho phù hợp với nhu cầu của thực tiễn, đồng thời, mở ra cơ hội để áp dụng thủ tục tố tụng rút gọn cho những loại vụ án dân sự khác.

– Nguyên tắc hai cấp xét xử

Nguyên tắc hai cấp xét xử được quy định tại Điều 17 của BLTTDS, theo đó, bản án, quyết định sơ thẩm của tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của BLTTDS. Bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn do Bộ luật quy định thì có hiệu lực pháp luật; đối với bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét xử phúc thẩm. Bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật.

Mục tiêu chính của quy định về thủ tục tố tụng rút gọn là tiết kiệm thời gian và chi phí cho cả tòa án và các đương sự, nên nếu chỉ quy định thủ tục tố tụng rút gọn ở cấp sơ thẩm và bản án, quyết định được ban hành không có giá trị chung thẩm thì mục đích này gần như không đạt được. Hầu hết các nước đều có quy định bản án, quyết định được ban hành khi xét xử bằng thủ tục tố tụng rút gọn đều có giá trị chung thẩm, tức là hạn chế quyền kháng cáo của đương sự. Trong điều kiện hiện nay, đối với những loại vụ kiện có giá ngạch thấp, cũng cần phải lựa chọn giữa một bên là những lợi ích không lớn cần phải bảo vệ triệt để và một bên là những hao tổn về thời gian, sức lực và những chi phí tốn kém của nhà nước và các đương sự khi vụ kiện phải trải qua nhiều cấp xét xử hơn. Trong nền kinh tế thị trường, khi mà ngành tòa án đang đối diện với sự gia tăng của các số lượng các án kiện dân sự, kinh tế, lao động mà thời gian đối với từng cá nhân và xã hội ngày càng quý giá thì việc áp dụng cơ chế xét xử một lần đối với các vụ án dân sự có giá ngạch thấp và đơn giản là hoàn toàn cần thiết. Trong điều kiện Việt nam hiện nay, việc quy định một cấp xét xử đối với một số vụ án có tính chất đặc thù là có thể thực hiện được về mặt kỹ thuật lập pháp.

Công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đặt ra vấn đề phải bảo vệ quyền và lợi ích của công dân cả về tài sản và nhân thân, vì thế, việc thiết lập cơ chế giải quyết nhanh gọn, hợp lý, tiết kiệm thời gian và công sức của cả các đương sự lẫn Nhà nước là nhiệm vụ quan trọng trong công cuộc xây dựng nền tư pháp hiện đại, hiệu quả, công bằng. Điều đó cũng phù hợp nhu cầu của công tác cải cách tư pháp hướng tới lợi ích của người dân và phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế.

SOURCE: TẠP CHÍ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT, SỐ 12/2011, TR. 37- 42

<

Quyền Phản Tố Của Bị Đơn Trong Tố Tụng Dân Sự

Quyền yêu cầu phản tố là một quyền của bị đơn (người bị kiện) trong vụ án dân sự, theo đó bị đơn có quyền kiện ngược lại nguyên đơn (người kiện) nếu như yêu cầu phản tố của bị đơn đáp ứng các điều kiện của quy định pháp luật.

Yêu cầu phản tố của bị đơn được chấp nhận khi đáp ứng các điều kiện sau đây:

Thứ nhất, về thời điểm: So với quy định BLTTDS 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011, bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. BLTTDS năm 2015, yêu cầu phản tố của bị đơn chỉ được chấp nhận “trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải” (Khoản 3 Điều 200). Quy định này giúp cho việc giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn của Tòa án được chủ động và hợp lý hơn, rút ngắn thời gian giải quyết vụ án.

Thứ hai, về mặt nội dung:

Yêu cầu phản tố chỉ được chấp nhận khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại Khoản 2, Điều 200, Bộ luật TTDS 2015:

: A có chiếc xe ô tô thuộc sở hữu riêng đã bán cho C, nhưng nói với con (B là con của A) là cho C thuê mỗi tháng năm triệu đồng. Sau đó A chết, B khởi kiện yêu cầu C phải thanh toán tiền thuê xe trong một năm qua là sáu mươi triệu đồng. C có yêu cầu phản tố yêu cầu Toà án công nhận quyền sở hữu xe ô tô và có tranh chấp. Nếu Toà án chấp nhận yêu cầu phản tố của C, thì dẫn đến không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của B đòi C thanh toán tiền thuê xe ô tô.” Trường hợp này yêu cầu phản tố của C đã loại trừ toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn B.

Ví dụ: “Chị M khởi kiện yêu cầu anh N phải trợ cấp nuôi con P một tháng ba trăm ngàn đồng. Anh N có yêu cầu phản tố yêu cầu Toà án xác định P không phải là con của anh”. Trường hợp này, yêu cầu của anh N không bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của chị M cũng không làm triệt tiêu yêu cầu của chị M. Yêu cầu của chị M vẫn chính đáng nếu như P là con anh N, tuy nhiên việc giải quyết yêu cầu này sẽ dẫn tới kết luận cuối cùng về việc giải quyết yêu cầu của chị M.

Tuy nhiên, hiện nay chưa có văn bản nào hướng dẫn cụ thể về điều khoản này, nên có thể dựa theo tinh thần Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP.

Trên thực tế, các yêu cầu của nguyên đơn có thể phức tạp hơn, và việc đưa ra yêu cầu phản tố của bị đơn cũng có thể trên nhiều phương diện, có thể thuộc đồng thời 3 trường hợp trên hoặc chỉ thuộc một trường hợp,… và việc chấp nhận yêu cầu phản tố một phần dựa trên quan điểm của thẩm phán giải quyết vụ việc.

Thứ ba, về mặt trình tự, thủ tục

Việc thực hiện quyền phản tố của bị đơn phải tuân thủ hình thức như khởi kiện của một vụ việc. Có nghĩa là bị đơn phải soạn đơn phản tố bằng văn bản và gửi tới Tòa án, sau đó bị đơn sẽ phải thực hiện nghĩa vụ nộp tạm ứng án phí như nguyên đơn. Thời hạn chuẩn bị xét xử sẽ được tính lại kể từ ngày bị đơn nộp tạm ứng án phí hoặc trong trường hợp bị đơn được miễn án phí thì tính từ ngày Tòa án nhận được đơn phản tố.

Thứ tư, hậu quả pháp lý của phản tố. Trường hợp yêu cầu phản tố không được chấp nhận:

Khoản 6 Điều 72 BLTTDS quy định: ” Trường hợp yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập không được Tòa án chấp nhận để giải quyết trong cùng vụ án thì bị đơn có quyền khởi kiện vụ án khác”. Như vậy, trường hợp yêu cầu phản tố của bị đơn không đử các điều kiện quy định và từ đó, không được Tòa án chấp thuận thì bị đơn có quyền khởi kiện một vụ án khác đối với yêu cầu phản tố của mình.

– Nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm.Đồng thời, trong phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, bị đơn được trình bày yêu cầu phản tố; những căn cứ để bảo vệ yêu cầu phản tố của mình và đề xuất quan điểm về những vấn đề cần hòa giải, hướng giải quyết vụ án.

– Trường hợp đặc biệt trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, theo khoản 2, Điều 217, Bộ luật TTDS 2015:

+ Bị đơn không rút hoặc chỉ rút một phần yêu cầu phản tố thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; bị đơn trở thành nguyên đơn, nguyên đơn trở thành bị đơn;

– Nếu bị đơn có yêu cầu phản tố vắng mặt lần hai mà không có người đại diện tham gia phiên tòa sơ thẩm thì bị coi là từ bỏ yêu cầu phản tố và Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tố, trừ trường hợp bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu phản tố đó theo quy định của pháp luật theo điểm c Khoản 2 Điều 227 BLTTDS 2015.

– Trong phiên tòa sơ thẩm, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu phản tố và chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu, đề nghị đó là có căn cứ và hợp pháp. Bị đơn có quyền bổ sung ý kiến theo Điểm b, Khoản 1, Điều 248, BLTTDS 2015. Đồng thời, trong bản án sơ thẩm, nội dung vụ án và nhận định của Tòa án phải ghi yêu cầu phản tố của bị đơn.

Bạn đang xem bài viết Một Số Vấn Đề Về Thủ Tục Rút Gọn Trong Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự Năm 2022 trên website Toiyeucogaihalan.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!