Xem Nhiều 2/2023 #️ Kinh Nghiệm Viết Và Công Bố Bài Báo Khoa Học # Top 8 Trend | Toiyeucogaihalan.com

Xem Nhiều 2/2023 # Kinh Nghiệm Viết Và Công Bố Bài Báo Khoa Học # Top 8 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Kinh Nghiệm Viết Và Công Bố Bài Báo Khoa Học mới nhất trên website Toiyeucogaihalan.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Lí do 3: Phương pháp nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu có thể ví von như là bộ xương của bài báo; bộ xương cứng thì cơ thể mới có thể đứng vững. Một nghiên cứu trên các nhà khoa học giải Nobel và tổng biên tập cho thấy gần 3/4 bài báo khoa học bị từ chối vì lí do phương pháp không đạt. Phương pháp ở đây bao gồm những khiếm khuyết về cách tiếp cận, thiết kế nghiên cứu (như thiếu nhóm chứng, , phương pháp đo lường chưa đạt, qui trình thực hiện thiếu tính hệ thống, phương pháp phân tích dữ liệu sai hay quá kém, cỡ mẫu không đủ. Trong giới biên tập người ta thường nói chỉ cần nhìn phần phương pháp là có thể đánh giá đẳng cấp của tác giả.

Lí do 4: cách trình bày dữ liệu. Nội dung bài báo quan trọng nhưng nếu trình bày không tốt cũng dễ bị từ chối. Có 3 nguyên nhân chính dẫn đến bài báo bị từ chối đăng: trình bày dữ liệu không đầy đủ (32%), có mâu thẫn giữa các dữ liệu trình bày (25%) và không cung cấp đầy đủ chi tiết về phương pháp nghiên cứu (25%).

Lí do 5: tiếng Anh. Một nghiên cứu ở Đài Loan cho thấy khoảng 1/4 những bài báo trong ngành y học bị từ chối là do tiếng Anh không đạt. Nhiều tập san có thể thông cảm nếu văn phong tiếng Anh có sai sót có thể chỉnh sửa được, nhưng họ không thể chấp nhận bài báo có quá nhiều sai sót về tiếng Anh. Về cách viết, các khoa học không ưa cách viết sử dụng từ ngữ hoa mĩ và sáo rỗng (ít thông tin), hoặc cách viết dùng những từ “đao to búa lớn” mà không có ý nghĩa cụ thể. Ngoài ra, diễn đạt ý tưởng không khúc chiết (21%) và câu văn thừa (11%) cũng là những nguyên nhân bị từ chối.

Ở nước ta, hiện nay các nghiên cứu sinh và giáo sư chịu áp lực công bố khoa học. Theo qui định mới, một nghiên cứu sinh phải công bố ít nhất 2 bài báo khoa học để được bảo vệ luận án. Tôi nghĩ qui định này hợp lí (và đã có nhiều người, trong đó có tôi, kêu gọi trước đây). Tuy nhiên, vì tiếng Anh là rào cản lớn cho đa số nghiên cứu sinh và ngay cả người hướng dẫn luận án, nên yêu cầu 2 bài báo trong thực tế là một yêu cầu không thấp. Tôi nghĩ cần phải công bằng hơn bằng cách huấn luyện kĩ năng soạn bài báo khoa học cho tất cả các nghiên cứu sinh trước khi họ bắt tay vào nghiên cứu.

https://vnexpress.net/tin-tuc/khoa-hoc/trong-nuoc/gs-nguyen-van-tuan-bai-bao-dau-tien-cua-toi-tung-bi-quang-vao-thung-rac-3724815.html https://vnexpress.net/tin-tuc/khoa-hoc/trong-nuoc/cong-trinh-nghien-cuu-duoc-tap-chi-quoc-te-kiem-duyet-the-nao-3725008.html

Ghi thêm: bản ngắn hơn đã đăng trên VNexpress hai kì theo đường link sau đây:

Dịch Vụ Viết Bài Báo Khoa Học

Hầu hết các dịch vụ viết bài báo khoa học để cần biết 5 bước sau đây để có thể đăng tải một bài báo khoa học của một người hay một nhóm người:

Để viết một bài báo khoa học thì những người làm dịch vụ cần biết rằng phương pháp viết bài báo khoa học gồm có 4 phần chính: Phần đầu tiên là phần giới thiệu, cần nêu lên vấn để mà người sử dụng dịch vụ đã lựa chọn sẵn để nghiên cứu. Phần thứ hai đó phương pháp, trong phần này nội dung cần đề cầm đó là nghiên cứu sử dung phương pháp và và tiến hành ra sao. Phần thứ ba, cũng chính là phần kết quả của nghiên cứu, người viết cần đưa ra những phát hiện thu được từ việc nghiên cứu và phần cuối cùng cần cho biết ý nghĩa của những phát hiện từ nghiên cứu.

Cấu trúc của một bài báo khoa học

Để cung cấp dịch vụ viết bài báo khoa học thì người viết cần phải nắm chắc cấu trúc của một bài báo khoa học phải bao gồm những phần sau: Tiêu đề (Title), tên tác giả (Authorship), tóm tắt (Abstract or Summary), từ khóa (Key words), đặt vấn đề (Introduction) và mục tiêu nghiên cứu (Objective), phương pháp nghiên cứu, kết quả, bàn luận và kết luận hai phần này có thể gộp vào làm một hoặc tách dời, lời cảm ơn, tài liệu tham khảo, phụ lục.

Cách viết cụ thể cho một bài báo khoa học:

Tóm tắt: Đối với phần tóm tắt thì người viết có thể lựa chọn một trong hai phương pháp đó là tóm tắt không cấu trúc hoặc tóm tắt không tiêu đề.

Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu thiết kế theo mô hình gì, đối tượng tham gia nghiên cứu đến từ đâu và đặc điểm của đối tượng, phương pháp đo lường, yếu tố nguy cơ thường là 4 đên 5 câu văn.

Kết quả: Phần này, nội dung cần tổng hợp những kết quả chính của toàn bộ nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu: Ở phần này, người viết cần mô tả ngắn gọn ở nội dung về mô hình nghiên cứu. Đây sẽ là câu văn ngắn, đơn giản để đề cập đến giá trị khoa học của bài báo.

Đối tượng nghiên cứu: thông tin về đặc điểm đối tượng nghiên cứu đóng vai trò quan trọng để người đọc đánh giá khái niệm, khái quát hóa công trình nghiên cứu. Gồm đặc điểm đối tượng nghiên cứu: tuổi, giới, dân tộc, trình độ học vấn, hôn nhân… tiêu chuẩn tuyển chọn và tiêu chuẩn loại trừ: nêu các biến số.

Địa điểm và thời gian nghiên cứu: địa điểm có thể ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu. Nêu địa điểm và thời gian thực hiện.

Cỡ mẫu và chọn mẫu: rất quan trọng trong nghiên cứu, thường có 1 câu văn mô tả cách xác định cỡ mẫu. Không nhất thiết phải là công thức tính, mà là những giả định đằng sau cách tính. Mẫu được chọn theo cách nào: ngẫu nhiên, thuận tiện, hay toàn bộ….)

Công cụ nghiên cứu và kỹ thuật thu thập thông tin: Nêu bộ công cụ, các biến số, việc thử nghiệm. Quy trình nghiên cứu và thu thập số liệu gồm các bước nghiên cứu, thu thập số liệu, can thiệp, thử nghiệm can thiệp…

Phân tích dữ liệu: chú ý 50% số bài báo trong tạp chí quốc tế bị từ chối vì sử dụng thống kê không đúng. Cụ thể lưu ý các biến số (độc lập, phụ thuộc), test thống kê, phần mềm sử dụng nên những người cung cấp dịch vụ viết bài báo khoa học cần hết sức chú ý để mang đến chất lượng tốt cho nhất cho người sử dụng dịch vụ.

Cách Trình Bày Một Bài Báo Khoa Học

(Văn hóa) – Triều Đông (dựa trên tài liệu trực tuyến của các trường đại học và tạp chí khoa học nghiên cứu của Mỹ)

Phần lớn các Tạp chí khoa học ở Mỹ đều áp dụng một dạng thức chuẩn (standard format) cho các bài báo khoa học (scientific papers) thuộc loại cống hiến nguyên thuỷ (original contributions) bao gồm những mục sau, mỗi mục đều có chủ đích nhất định:

1. Tựa bài (Title): Tựa bài thường từ 10 -15 từ (có tạp chí còn rút ngắn xuống dưới 10 từ), phản ánh nội dung chính của bài viết. Một tựa bài tốt không phải nhằm mục đích lôi cuốn hấp dẫn độc giả mà là đề cập thẳng vấn đề muốn giải quyết và dùng những từ chủ yếu (keywords) để những ai nghiên cứu trong cùng một lĩnh vực có thể nhận biết được. Sau tựa bài là tên tác giả, có tạp chí ghi chú chức danh, học hàm học vị, có tạp chí không nhưng cho biết nơi làm việc, địa chỉ email và còn ghi tên người biên tập, ngày nhận bài và ngày chấp thuận đăng (tạp chí PNAS – Proceedings of the National Academy of Sciences).

2. Tóm tắt (Summary or Abstract): Mục đích của phần tóm tắt là giúp độc giả nhận biết bài viết có phù hợp với đề tài mình họ đang quan tâm không. Phần này tóm tắt ngắn gọn (từ 100 đến 200 từ) mục đích của bài viết, dữ liệu trình bày và kết luận chính của tác giả. Có tạp chí (Nature và Science) xem phần này như lời giới thiệu ngắn (brief introduction) về bài viết.

3. Introduction (Giới thiệu): Trong phần này, tác giả xác định đề tài nghiên cứu, phác thảo mục tiêu nghiên cứu và cung cấp cho độc giả đầy đủ cơ sở khoa học để hiểu biết phần còn lại của bài viết. Cần chú ý giới hạn những kiến thức cơ sở này trong các thử nghiệm của tác giả. Mục này sẽ đạt yêu cầu nếu trả lời được những câu hỏi như: (1) Lý do thực hiện nghiên cứu này? (xuất phát từ hiện tượng tự nhiên hay các tư liệu đã có trước), (2) Những kiến thức nào đã có trước về đề tài này? (tổng kết tư liệu, quá trình phát triển ý tưởng trước đó của các tác giả khác, những khẳng định, mâu thuẫn, và khác biệt giữa các tài liệu đã có về đề tài này), (3) Mục đích chính của nghiên cứu là gì?

4. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu (Materials and Methods): Mục này còn được gọi là Experimental details (Dữ liệu thử nghiệm) hay Theoretical basis (Cơ sở lý thuyết). Dữ liệu thu thập được và phương pháp nghiên cứu của tác giả được trình bày ở đây. Mục này khó viết nhất ở chỗ cung cấp vừa đủ chi tiết để hiểu được thử nghiệm nghiên cứu nhưng không làm rối trí độc giả. Nhìn chung, tác giả sẽ phải trả lời những câu hỏi sau: (1) Dữ liệu nào đã sử dụng? (2) Chúng được sử dụng như thế nào? (3) Địa điểm và thời gian hoàn thành thử nghiệm?

5. Kết quả (Results): Mục này tóm tắt những kết quả thử nghiệm và không đề cập đến ý nghĩa của chúng. Dữ liệu được trình bày theo bảng biểu, đồ thị hình vẽ, hình ảnh v.v…Những dữ liệu đã ghi theo bảng không nên trình bày lại theo hình vẽ hay biểu đồ. Những số liệu và bảng biểu tự chúng đã trình bày đầy đủ thông tin mà không cần phải giải thích thêm bằng lời. Mục này nên tập trung vào những xu hướng và khác biệt chính chứ đừng sa vào những chi tiết nhỏ nhặt.

6. Diễn giải và Phân tích kết quả (Discussion): Mục này nhằm: (1) Diễn giải phân tích kết quả, những ưu điểm và hạn chế, tách bạch rõ ràng dữ liệu và suy luận, (2) Mối liên hệ giữa kết quả nghiên cứu của tác giả với những phát hiện khác trong các nghiên cứu trước đó. Điều này cho thấy đóng góp của tác giả bổ sung cho lý thuyết và kiến thức, hay điều chỉnh những sai sót của các đề tài nghiên cứu trước đó. Tất nhiên, người viết phải có những lý lẽ thật lôgích cho những thử nghiệm và suy luận của mình và cũng có thể đề nghị tiếp tục những thử nghiệm trong tương lai để làm sáng tỏ những vấn đề còn bỏ ngỏ trong kết quả của mình.

7. Phần cảm ơn (Acknowledgements) hay Tài liệu tham khảo (Reference): Người viết cảm ơn những người đã cộng tác nghiên cứu với mình và liệt kê tất cả tài liệu đã trích dẫn trong bài viết. Cách trình bày theo thứ tự, tên tác giả, tác phẩm, năm tháng, nơi xuất bản v.v.. có thể khác nhau giữa các tạp chí (trước sau, in nghiêng, in đậm v.v..).

Phần lớn các tạp chí khoa học đều theo cách trình bày trên, tuy nhiên cũng có thể khác nhau chút ít như ghép chung các mục Results và Discussion, hoặc xếp mục Materials and Methods sau mục Discussion. Đối với những tạp chí có đối tượng bạn đọc rộng rãi như Science và Nature thì các bài viết khoa học được rút gọn tối đa vì phải dành trang cho những bài viết khác. Những dữ liệu ít quan trọng và phần lớn nội dung trình bày phương pháp và thử nghiệm, độc giả có thể tìm hiểu thêm trên tạp chí trực tuyến của họ. Cũng có tạp chí không nhất thiết sử dụng đầy đủ tên gọi các tiểu mục như trên tuy nội dung vẫn như vậy, như họ không đặt tiểu mục là Tóm tắt, hay Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu, Kết quả, Diễn giải và Phân tích …Ví dụ như bài Evaluating Living Wage Laws in the United States: Good Intentions and Economic Reality in Conflict? đăng trong Economic Development Quaterly (2.2005) có nội dung như sau: What Is a Living Wage? Quantifying the Concepts Measuring Poverty, Thresholds Regional Living Costs, Estimating Costs of Living Wage Ordinances, Data Sources, Wage and Benefit Increases, Cost Estimates, Alternative Adjustments for Covered Firms, Contractors – Only Ordinances, Adjustments under Areawide Ordinances, Labor Substitution, Conclusions, Notes, References (không đánh số La Mã); bài Estimation with Price and Output Uncertainty đăng trên Journal of Applied Economics (12.2005) với nội dung I. Introduction, II. Additive output uncertainty, III. Multiplicative output certainty, IV. Empirical exercise, V. Results & Conclusing và References, hay bài Employment Generation for the Rural Poor in Asia:

Perspectives, Patterns, and Policies đăng trên Asian Development Review (1.2006) với I. Introduction, II. Models of Rural Development, III. Rural Employment: the Evidence , IV. Other Stylized Patterns In Rural Employment, V. Policies for Employment Generation, VI.Concluding Remarks và References.

Theo CIVILLAWINFOR TỔNG HỢP TỪ NGUỒN TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KINH TẾ

Bài Báo Khoa Học P6: Viết Tóm Tắt Abstract

Hôm trước tôi có nhận xét một bài báo mà phần abstract hầu như chẳng có thông tin gì, đó là một bản tóm tắt dở. Phần này sẽ mách cho các bạn vài mẹo để viết một abstract cho đạt.

Các bạn thử đọc qua abstract sau đây:

Có nhiều điều cần học từ bản tóm tắt này. Học cái không nên viết.

Bản viết tóm tắt abstract này bắt đầu bằng một mục tiêu, nhưng ngay sau đó thì tác giả bắt đầu lan man từ các chi tiết mang tính kĩ thuật, và đến cuối cùng thì độc giả vẫn không nắm được cái thông điệp chính của bài báo.

v.v. tuy không có gì sai, nhưng dùng những I, We nhiều quá làm cho độc giả có thể cảm thấy khó chịu.

Nhìn chung, tôi thấy bản tóm tắt này viết chưa đạt. Đọc xong bản abstract, người đọc không thấy mình lãnh hội được thông tin gì mới, cũng chẳng có một thông tin gì cụ thể về phương pháp, và quan trọng nhất là không có thông điệp chính. Những thiếu sót này cần phải tránh khi viết bản abstract.

Chữ Abstract trong tiếng Anh thật ra có nguồn từ tiếng Latin, với ab có nghĩa là phía ngoài, và trahere có nghĩa là rút ra. Do đó, abstract có thể hiểu nôm na là rút những nét chính ra ngoài. Trong thực tế, abstract hay bản tóm tắt, như tên gọi, là một văn bản lược giản những nội dung chính của một bài báo. Do đó, bản tóm lược phải là một văn bản độc lập, hiểu theo nghĩa người đọc không cần đọc toàn bộ bài báo mà vẫn nắm được mục tiêu nghiên cứu, phương pháp, kết quả chính, và kết luận của công trình nghiên cứu.

Nguyên tắc 1: cái mới.( Viết tóm tắt abstract)

Tâm lí độc giả khoa học thường hay chú ý đến cái mới. Khi đọc một bài báo họ tự hỏi có cái gì mới trong bài báo này. Do đó, tác giả cần phải nghĩ đến điểm gì mới của bài báo, và điểm mới này phải được viết ra ngay trong bản viết tóm tắt abstract. Có thể bắt đầu ở phần bối cảnh (background), với một câu văn như:

Trong câu trên, chúng ta thấy tác giả chỉ ra ngay cái khoảng trống tri thức về TBS ngay từ câu đầu tiên. Câu thứ hai chính là mục tiêu của nghiên cứu. Chỉ cần ngắn gọn như thế là có thể thu hút người đọc.

Nguyên tắc 2: tầm quan trọng.

hay như bài báo về kháng thuốc ở bệnh nhân ICU, tác giả viết:

Câu hỏi và mục đích của nghiên cứu. Phần này phải mô tả bằng 2 câu văn. Câu văn thứ nhất mô tả vấn đề mà tác giả quan tâm là gì, và tình trạng tri thức hiện tại ra Câu văn thứ hai mô tả mục đích nghiên cứu một cách gọn nhưng phải rõ ràng.

Cách viết ngắn gọn đó nói lên cái tầm ảnh hưởng của phát hiện được trình bày trong abstract.

Phương pháp nghiên cứu. Cần phải mô tả công trình nghiên cứu được thiết kế theo mô hình gì, đối tượng tham gia nghiên cứu đến từ đâu và đặc điểm của đối tượng, phương pháp đo lường, yếu tố nguy cơ (risk factors), chỉ tiêu lâm sàng (clinical outcome). Phần này có thể viết trong vòng 4-5 câu văn.

Nguyên tắc 3: chứng cứ.

Nguyên tắc 4: ngắn gọn.

Kết quả. Trong phần này, tác giả trình bày những kết quả chính của nghiên cứu, kể cả những số liệu có thể lấy làm điểm thiết yếu của nghiên cứu. Nên nhớ rằng kết quả này phải được trình bày sao cho trả lời câu hỏi nghiên cứu đặt ra từ câu văn đầu tiên.

Bản abstract là một văn bản rất … hà tiện. Số chữ có giới hạn (thường 100 đến 300 chữ), nhưng phải phản ảnh nội dung của một công trình nghiên cứu có khi kéo dài đến 10 năm. Do đó, cần phải tập cách viết ngắn gọn, sao cho không có chữ nào là thừa và cũng không có chữ nào thiếu. Nghĩ đến bản tóm tắt như là một chapeau của giới báo chí, tức chỉ vài chữ mà độc giả nắm được nội dung chính của bài báo.

Acinetobacter baumannii “We identified

Kết luận. Một hoặc 2 câu văn kết luận và ý nghĩa của kết quả nghiên cứu. Có thể nói phần lớn độc giả chú tâm vào câu văn này trước khi học đọc các phần khác, cho nên tác giả cần phải chọn câu chữ sao cho “thuyết phục” và thu hút được sự chú ý của độc giả trong 2 câu văn quan trọng này.

nhưng nếu viết

thì không thể xem là trong sáng được.

1. Abstract là một văn bản độc lập với bài báo.

Bản tóm tắt tuy là một phần của bài báo khoa học, nhưng nó là một văn bản độc lập. Nếu các bạn nộp bài báo khoa học cho tập san, người ta thường yêu cầu nộp văn bản abstract riêng trong hệ thống online. Khi nói “độc lập” tôi cũng có ý nói rằng abstract là một bài báo ngắn. Nói ví von một chút thì abstract là một bài thơ của bài báo. Chúng ta biết rằng thơ cần phải được viết một cách cô đọng, và đó chính là cách viết phần abstract.

2. Abstract là một tổng quan câu chuyện chính.

Vì là một văn bản độc lập, nên bản abstract phải là tổng quan của “câu chuyện”. Câu chuyện ở đây là toàn bộ công trình nghiên cứu. Phải viết sao cho người đọc chỉ cần đọc qua bản abstract là biết được câu chuyện mà tác giả muốn chuyển tải đến người đọc.

3. Mỗi phần trong bài báo cần phải được đề cập vài nét chính.

Vì là tổng quan, cho nên mỗi phần trong bài báo như dẫn nhập, phương pháp, kết quả, bàn luận và kết luận phải hiện diện trong abstract. Dĩ nhiên, vì là “bài thơ”, nên mỗi phần như thế chỉ hiện diện rất ngắn gọn. Có lẽ phần kết quả là phần dài nhất của abstract, nhưng cũng chỉ có thể đưa vào những phát hiện chính, chứ không thể nào viết vài dòng được.

4. Một abstract cần/nên có những thông tin về kết quả và kết luận.

5. Giới hạn trong vòng 100 – 300 chữ.

Các tập san y sinh học thường giới hạn số chữ trong bản abstract, và số chữ cho phép dao động trong khoảng 100 đến 300 chữ, kể cả khoảng trống. Ngày nay, có một số tập san còn yêu cầu tác giả phải có phần “min-abstract” mà tác giả phải viết trong vòng 200 mẫu tự để nói về nghiên cứu của mình. Mini-abstract có thể xem như là một chapeau của giới báo chí. Tóm tắt một bài báo 20-30 trang (có khi 50 trang) xuống còn 300 chữ hay 200 mẫu tự là một thách thức lớn, nhưng rất hào hứng. Nó luyện tác giả phải chọn chữ cho thích hợp và tập trung suy nghĩ về bài báo của mình. Do đó, cần phải đầu tư (có khi cả ngày suy nghĩ) chỉ để viết 300 chữ!

Có 2 loại tóm tắt: không có tiêu đề và có tiêu đề. Loại tóm tắt không có tiêu đề là một đoạn văn duy nhất tóm tắt công trình nghiên cứu. Loại tóm tắt có tiêu đề – như tên gọi – là bao gồm nhiều đoạn văn theo các tiêu đề sau đây: Background, Aims, Methods, Outcome Measurements, Results, và Conclusions. Tuy nhiên, dù là có hay không có tiêu đề, thì một bản viết tóm tắt abstract phải chuyển tải cho được những thông tin quan trọng sau đây:

Ví dụ: ” Antimicrobial resistance has emerged as a major concern in developing countries. The present study sought to define the pattern of antimicrobial resistance in ICU patients with ventilator-associated pneumonia. ” Câu đầu tiên là nói về vấn đề lớn, câu thứ hai là mục tiêu.

Ví dụ: ” Between November 2014 and September 2015, we enrolled 220 patients (average age ~71 yr) who were admitted to ICU in a major tertiary hospital in Ho Chi Minh City, Vietnam. Data concerning demographic characteristics and clinical history were collected from each patient. The Bauer-Kirby disk diffusion method was used to detect the antimicrobial susceptibility.”

Một ví dụ khác: ” The study involved 1765 patients in the development cohort and 1728 in the validation cohort. The main outcome was mortality up to 30 days after admission.

Potential risk factors included clinical characteristics, vital signs, and routine haematological and biochemistry tests. The Bayesian Model Averaging method within the Cox’s regression model was used to identify independent risk factors for mortality.”

Hai ví dụ trên cho thấy trong phần phương pháp, tác giả phải chỉ ra cho được số lượng bệnh nhân, mô hình nghiên cứu, và những đo lường chính. Có khi phương pháp phân tích đóng vai trò quan trọng trong bài báo, và do đó, cần phải đề cập đến (như trong ví dụ 2).

Ví dụ như nghiên cứu về kháng thuốc, vì mục tiêu đề ra là xác định qui mô kháng thuốc, nên phần kết quả phải bám sát theo mục tiêu này. Mở đầu phần kết quả là đi thẳng vào kết quả quan trọng:

Chú ý trong phần kết quả trên, vì quá nhiều kết quả, nên chỉ có thể tập trung vào những điểm chính mà thôi. Những con số quan trọng để trong ngoặc kép. Có khi kết quả phân tích rất nhiều, nên chỉ có thể nhắc đến một hay 2 điểm mà thôi:

Chú ý trong đoạn văn trên, tác giả không cần đề cập đến các chi tiết về bệnh nhân (như tuổi, giới tính) mà đi thẳng vào kết quả phân tích.

Ví dụ như công trình về phát triển mô hình tiên lượng tử vong ở bệnh nhân cấp cứu, tác giả chỉ cần một câu đơn giản nhưng “punchy” là đủ:

Về cách viết, có một số “câu văn tủ” có thể dùng để viết bản tóm tắt như sau. Những chữ hay dùng là evaluate, assess, compare, determine, ascertain, v.v.

[Viết về bối cảnh nghiên cứu] It has been widely assumed that for a given BMI, Asians have higher percent body fat (PBF) than whites, and that the BMI threshold for defining obesity in Asians should be lower than the threshold for whites.

[Mục tiêu nghiên cứu] This study sought to test this assumption by comparing the PBF between US white and Vietnamese women.

[Kết quả] In both studies, lean mass (LM) and fat mass (FM) were measured by dual- energy X-ray absorptiometry (DXA) (QDR 4500; Hologic). PBF was derived as FM over body weight. Compared with Vietnamese women, white women had much more FM (24.8

[Kết luận] Although white women had greater BMI, body weight, and FM than Vietnamese women, their PBF was virtually identical. Further research is required to derive a more appropriate BMI threshold for defining obesity for Asian women.

Chú ý trong bản viết tóm tắt abstract, chúng ta không cần viết nhiều chi tiết về phương pháp (ngoại trừ đó là bài báo về phương pháp). Không nên viết tắt những thuật ngữ mà người đọc ngoài ngành không am hiểu. Thông thường bảng tóm lược được viết sau khi đã hoàn tất bài báo. Kinh nghiệm của tôi cho thấy có khi tốn đến cả ngày chỉ để viết một bản tóm lược với 200 chữ. Tôi xem abstract như một bài thơ, tức là tác giả phải chọn từ ngữ rất cẩn thận để phản ảnh một cô đọng những điều mình muốn chuyển tải đến cộng đồng khoa học.

Bạn đang xem bài viết Kinh Nghiệm Viết Và Công Bố Bài Báo Khoa Học trên website Toiyeucogaihalan.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!