Xem Nhiều 2/2023 #️ Kháng Nghị Đối Với Bản Án Hình Sự Phúc Thẩm Tội “Đánh Bạc” # Top 5 Trend | Toiyeucogaihalan.com

Xem Nhiều 2/2023 # Kháng Nghị Đối Với Bản Án Hình Sự Phúc Thẩm Tội “Đánh Bạc” # Top 5 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Kháng Nghị Đối Với Bản Án Hình Sự Phúc Thẩm Tội “Đánh Bạc” mới nhất trên website Toiyeucogaihalan.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

KHÁNG NGHỊ

Đối với Bản án hình sự phúc thẩm số 377/2016/HSPT ngày 30-6-2016 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội

CHÁNH ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Căn cứ Điều 273 và Điều 275 Bộ luật tố tụng hình sự;

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự đối với bị cáo:

1. Phạm Tiến Dũng, sinh năm 1989; trú tại Khu phố 1, thị trấn Quảng Xương, huyện Quảng Xương,tỉnh Thanh Hóa; con ông Phạm Hữu Nhạc và bà Nguyễn Thị Chiên; có vợ là Nguyễn Thị Nga; tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 06-3-2013, bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương xử phạt 8 tháng tù cho hưởng án treo về tội “đánh bạc”; bị giam từ ngày 24-5-2013 đến ngày 16-7-2013.

2. Nguyễn Ngọc Tú, sinh năm 1989; trú tại thôn Dục Tú, xã Quảng Tân, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa, con ông Nguyễn Văn Lợi và bà Lê Thị Minh; tiền án, tiền sự: không; bị giam từ ngày 24-5-2013 đến ngày 16-7 -2013.

3. Bùi Sỹ Đạt, sinh năm 1989; trú tại thôn Dục Tú, xã Quảng Tân, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa; con ông Bùi Sỹ Tiến và bà Phạm Thị Hồng; có vợ và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị giam từ ngày 24-5-2013 đến ngày 2-6-2013

4. Đàm Minh Hải, sinh năm 1991; trú tại thôn Thịnh Tăng, xã Quảng Thịnh, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa; con ông Đàm Văn Luyến bà bà Nguyễn Thị Hòa (đã chết); có vợ và 01 con; bị giam từ ngày 24-5-2013 đến ngày 02-6-2013.

NHẬN THẤY:

Khoảng 20 giờ 45 phút ngày 24-5-2013, Tổ công tác phòng chống tội phạm về ma túy của Công an thành phố Thanh Hóa đã phát hiện và bắt quả tang đối với các đối tượng gồm: Phạm Tiến Dũng, Đàm Minh Hải, Bùi Sỹ Đạt và Nguyễn Ngọc Tú đang cùng với một số đối tượng khác có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy để nhảy và hát karaoke tại phòng số 03 của quán hát Hoàng Linh thuộc thị trấn Quảng Xương, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.

Vật chứng thu giữ được là 01 viên ma túy tổng hợp ở trong túi quần bên phải của Phạm Tiến Dũng đang mặc.

Quá trình điều tra xác định: Khoảng 09 giờ ngày 24-5- 2013, Phạm Tiến Dũng, Đoàn Minh Hải, Bùi Sỹ Đạt và Nguyễn Ngọc Tú cùng ngồi uống bia tại quán cà phê Phương Trang, thuộc xã Quảng Tân, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa. Trong lúc uống bia, Phạm Tiến Dũng đã nói với Hải, Đạt và Tú là: Hôm nay sinh nhật của Dũng, chiều không đi đá bóng mà đến 3 giờ chiều tập trung để đi uống bia, tối hát karaoke kiếm ít kẹo (tức ma túy tổng hợp) để sử dụng cho vui, hát cho bốc, ai có tiền góp bao nhiêu thì tùy. Nghe Dũng nói như vậy thì tất cả Hải, Đạt và Tú đồng ý hưởng ứng nhiệt tình. Cả bọn thống nhất hẹn nhau buổi chiều sẽ tập trung để uống bia tại quán bà Nhượng ở khu phố 2 thị trấn Quảng Xương, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa. Khoảng 15 giờ cùng ngày, Phạm Tiến Dũng, Đàm Minh Hải, Bùi Sỹ Đạt và Nguyễn Ngọc Tú đã tập trung tại quán bán hàng của bà Nhượng theo như đã bàn bạc, thống nhất với nhau từ trước. Trong lúc uống bia, Phạm Tiến Dũng nhắc lại việc đã thống nhất mua thuốc lắc (ma túy tổng hợp) để sử dụng mừng sinh nhật thì Đàm Minh Hải đã tự nguyện đưa ngay cho Dũng 300.000 đồng nói là để góp mua ma túy. Bùi Sỹ Đạt nói với mọi người là do Đạt không mang sẵn tiền nên để Đạt chịu trách nhiệm đi lo bánh sinh nhật với mọi người. Nguyễn Ngọc Tú bảo để Tú lo phòng hát cho mọi người tổ chức sử dụng ma túy mừng sinh nhật Dũng. Sau đó, Phạm Tiến Dũng đã nói với mọi người là: Đạt và Tú chịu trách nhiệm lo bánh sinh nhật và phòng hát, còn Dũng sẽ chịu trách nhiệm đi mua ma túy về sử dụng. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, sau khi uống bia xong, Nguyễn Ngọc Tú trực tiếp trả tiền bia hết 340.000 đồng và Tú bảo mọi người đi đến quán hát karaoke Hoàng Linh để Tú thuê phòng hát. Sau đó mọi người giải tán mỗi người đi làm phần việc của mình theo như đã thống nhất.

Sau khi Tú thuê được phòng hát thì cả Hải và Huy (là bạn của Dũng) cùng đi vào phòng để hát với Tú. Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, Phạm Tiến Dũng đem 06 viên ma túy tổng hợp quay về phòng hát số 03 Hoàng Linh như đã hẹn trước. Khi Dũng vào phòng không thấy Hải nên đã gọi điện cho Hải và điện thoại mời thêm cả chị Nguyễn Thị Đào và chị Vũ Thị Khánh Huyền cùng đến. Sau khi thấy trong phòng đã có đông đủ mọi người được mời, Dũng đã trực tiếp phân phát ma túy cho Đàm Minh Hải, Bùi Sỹ Đạt và Nguyễn Ngọc Tú mỗi người một viên để cùng sử dụng. Dũng hòa một viên ma túy tổng hợp vào cốc bia rồi đưa cho chị Vũ Khánh Huyền và chị Nguyễn Thị Đào uống. Chị Đào và chị Huyền biết đó là ma túy nên không uống mà lợi dụng lúc mọi người không để ý đã đổ cốc bia có ma túy Dũng đưa. Khi cả bọn đang sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an bắt quả tang và thu giữ tang vật như đã nêu trên.

Theo lời khai của Phạm Tiến Dũng về nguồn gốc là do Dũng mua của một người đàn ông làm nghề lái xe ôm (không rõ tên, địa chỉ) với tổng số tiền là 1.800.000 đồng tại khu vực bến xe phía Bắc, thành phố Thanh Hóa.

Tại bản kết luận giám định số 754/PC54 ngày 28/5/2013, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: viên ma túy tổng hợp có trọng lượng: 0,23 gam là thành phần MDMA (Methamphetamine).

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 41/2015/HSST ngày 27-5-2015, Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa quyết định:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 197; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; khoản 2 Điều 51; Điều 53; khoản 5 Điều 60; Điều 33 Bộ luật hình sự, xử phạt Phạm Tiến Dũng 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; tổng hợp với hình phạt của bản án hình sự sơ thẩm số 18 ngày 06-3-2013 của Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương xử phạt bị cáo 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 08 năm 08 tháng tù.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 197; Điều 53; Điều 33 (áp dụng thêm điểm n khoản 1, khoản 2 Điều 46 đối với bị cáo Nguyễn Ngọc Tú, khoản 2 Điều 46 đối với Bùi Sỹ Đạt) Bộ luật hình sự, xử phạt Đàm Minh Hải 07 năm tù, Bùi Sỹ Đạt 06 năm 06 tháng tù, Nguyễn Ngọc Tú 06 năm tù, đều về tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý tang vật, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 5-6-2015, Phạm Tiến Dũng, Bùi Sỹ Đạt, Đàm Minh Hải kháng cáo kêu oan; người đại diện cho bị cáo Nguyễn Ngọc Tú là ông Nguyễn Văn Lợi kháng cáo kêu oan cho bị cáo Tú.

Tại bản hình sự hình sự phúc thẩm số 377/2016/HSPT ngày 30-6-2016, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã hủy bản án hình sự sơ thẩm nêu trên để điều tra lại.

XÉT THẤY

Những lý do mà Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm số 41/2015/HSST ngày 27-5-2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa để điều tra lại là không có căn cứ bởi lẽ:

Về lời khai mâu thuẫn của các bị cáo: Sau khi bắt quả tang các đối tượng, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thanh Hóa dã phân công nhiều cán bộ tiến hành ghi lời khai đối với Phạm Tiến Dũng, Đàm Minh Hải, Bùi Sỹ Đạt và Nguyễn Ngọc Tú. Ngay từ đầu các bị cáo đã viết bản tự khai khai nhận về hành vi đồng phạm của mình. Đánh giá toàn diện về tài liệu, chứng cứ đã điều tra có trong hồ sơ vụ án thì thấy không có mâu thuẫn về nội dung sự việc phạm tội, cụ thể là: Từ 9 giờ sáng ngày 24-5-2013, các bị cáo đã rủ nhau thống nhất ý chí mua thuốc lắc (ma túy) về sử dụng để nhảy, hát cho bốc mừng sinh nhật của Phạm Tiến Dũng. Các bị cáo đã bàn bạc, phân công cụ thể người thì góp tiền, người nhận lo đặt bánh, người lo đặt phòng để sử dụng ma túy mừng sinh nhật Dũng, thống nhất ai có bạn thì mời đến tham dự.

Về lý do “không thể hiện có xét nghiệm nước tiểu trog hồ sơ” thì đây không phải là dấu hiệu bắt buộc để định tôi danh “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” bởi vì các đối tượng sử dụng ma túy trong vụ án này đều bị truy tố về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” do có hành vi đồng phạm với Phạm Tiến Dũng khi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho nhiều người khác là chị Vũ Khánh Huyền và chị Nguyễn Thị Đào. Việc chị Huyền, chị Đào không uống cốc bia có pha viên ma túy do Phạm Tiến Dũng đưa hay không thì không phải là dấu hiệu bắt buộc hoặc ý nghĩa quyết định của việc định tội danh vì dấu hiệu hành vi “nhằm đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác” là đã cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Mặt khác, việc xét nghiệm nước tiểu chỉ có ý nghĩa bắt buộc đối với tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” (đã bị bãi bỏ) hoặc xét nghiệm nước tiểu chỉ có ý nghĩa nghiệp vụ phân loại đối tượng để nhằm xử lý hành chính đối với người sử dụng trái phép chất ma túy.

Về vật chứng thu giữ: Đối với vật chứng là viên ma túy được thu giữ trong túi quần của Phạm Tiến Dũng khi bắt quả tang, về màu sắc “trắng” và “trắng ngà” đã được Tòa án cấp sơ thẩm trả hồ sơ điều tra bổ sung làm rõ.

Tại kết luận điều tra bổ sung ngày 25-3-2015, Cơ quan cảnh sát điều tra đã giải trình như sau: Tại Biên bản bắt người phạm tôi quả tang và biên bản niêm phong vật chứng thì “Vật chứng là một viên nén hình tròn màu trắng ngà” Tại biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định, bản kết luận giám định, Biên bản giao nhận mẫu vật sau giám định thì “ Vật chứng là một viên nén hình tròn màu trắng”. Ngày 15-3-2015, Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Thanh Hóa có công văn số 536/MT-PC54 trao đổi với Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thanh Hóa về nội dung như sau: “Gói niêm phong vật chứng do phòng PC47 Công an tỉnh Thanh Hóa gửi giám định ngày 27-5-2013 là còn nguyên vẹn. Về bản chất thì màu trắng ngà là một dạng của màu trắng, do trực quan của mỗi người có sự khác nhau nên mô tả trong biên bản có sự khác nhau về câu từ”.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm số 377/2016/HSPT ngày 30-6-2016 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội; đề nghị Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy bản án hình sự phúc thẩm nêu trên để xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

         Căn cứ khoản 3 Điều 279; khoản 3 Điều 285 và Điều 287 Bộ luật tố tụng hình sự:

Hủy bản án hình sự phúc thẩm số 377/2016/HSPT ngày 30-6-3016 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội để xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Thủ Tục Kháng Cáo Bản Án Hình Sự Sơ Thẩm

Thủ tục kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm là thủ tục cần thiết đối với những người cảm thấy bản án hình sự sơ thẩm đối với họ là chưa hợp lý, ảnh hưởng trực tiếp tới quyền và lợi ích của họ. Do đó, làm thế nào để kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm, thời hạn và thủ tục kháng cáo, thuê luật sư kháng cáo có lợi ích gì không, bài viết này của chúng tôi sẽ tư vấn cụ thể cho người đọc.

Thời hạn kháng cáo

Căn cứ khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đối với bị cáo, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Đơn kháng cáo hình sự sơ thẩm

Đơn kháng cáo trong vụ án hình sự cần phải có những nội dung quy định tại khoản 2 Điều 332 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 sau đây:

Ngày, tháng, năm làm đơn kháng cáo;

Họ tên, địa chỉ của người kháng cáo;

Lý do và yêu cầu của người kháng cáo;

Chữ ký hoặc điểm chỉ của người kháng cáo.

Đơn này phải do người có quyền kháng cáo viết theo Điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Thủ tục kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm

Căn cứ Điều 332. Điều 334 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, thủ tục kháng cáo bao gồm:

Người kháng cáo phải gửi đơn kháng cáo đến Tòa án đã xét xử sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm: trình bày trực tiếp hoặc làm đơn kháng cáo;

Sau khi nhận được đơn kháng cáo hoặc biên bản về việc kháng cáo, Tòa án cấp sơ thẩm phải vào sổ tiếp nhận và kiểm tra tính hợp lệ của đơn kháng cáo theo quy định của Bộ luật này:

Trường hợp đơn kháng cáo hợp lệ thì Tòa án cấp sơ thẩm thông báo về việc kháng cáo theo quy định tại Điều 338 của Bộ luật này;

Đơn kháng cáo hợp lệ nhưng nội dung kháng cáo chưa rõ thì Tòa án cấp sơ thẩm phải thông báo ngay cho người kháng cáo để làm rõ;

Nếu quá thời hạn kháng cáo thì Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu người kháng cáo trình bày lý do và xuất trình chứng cứ, tài liệu, đồ vật (nếu có) để chứng minh lý do nộp đơn kháng cáo quá hạn là chính đáng khi nội dung đơn hợp lệ;

Nếu người làm đơn kháng cáo không có quyền kháng cáo thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận đơn, Tòa án trả lại đơn và thông báo bằng văn bản cho người làm đơn, Viện kiểm sát cùng cấp. Văn bản thông báo phải ghi rõ lý do của việc trả lại đơn.

Luật sư tư vấn kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm

Tư vấn kĩ cho khách hàng về thủ tục và thời hạn kháng cáo;

Soạn đơn kháng cáo và chuẩn bị các giấy tờ cần thiết để thực hiện quyền kháng cáo;

Kháng cáo cho thân chủ với tư cách là người đại diện theo ủy quyền hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thân chủ;

Tư vấn về các vấn đề cần kháng cáo cho thân chủ;

Các công việc khác tùy từng vụ việc.

So với tự kháng cáo thì việc thuê luật sư có chuyên môn giúp thân chủ có thể kháng cáo đúng với quy định pháp luật, tránh các rắc rối không cần thiết về pháp lý.

Chi phí thuê luật sư

Khi thuê luật sư thực hiện thủ tục kháng cáo, người có nhu cầu có thể thỏa thuận trả phí theo các cách:

Phí cố định: thanh toán theo từng tiến độ giải quyết kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm;

Phí kết quả: thanh toán theo mức độ kết quả mà luật sư thực hiện được để giải quyết vụ án, vụ việc.

Thực tế, tùy vào cụ thể, chi tiết, mức độ khó khăn của từng sự, vụ việc sẽ có mức phí thuê luật sư khác nhau.

Cam kết chất lượng dịch vụ

Được đội ngũ Luật sư nhiều kinh nghiệm trực tiếp tư vấn và giải đáp tận tình những vướng mắc của khách hàng về vấn đề của mình;

Được tư vấn cụ thể trong trường hợp đó, bạn nên làm gì để giải quyết vấn đề nhanh chóng và hiệu quả nhất;

Và đặc biệt là đại diện theo ủy quyền hoặc cử Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích của khách hàng trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án;

Bảo đảm về bí mật thông tin khách hàng một cách tuyệt đối;

Chi phí hợp lý, phù hợp với vụ án của khách hàng.

Thủ Tục Xét Xử Phúc Thẩm Án Dân Sự

Văn phòng luật sư Dragon giới thiệu bạn đọc về thủ tục xét xử phúc thẩm

Chương XVII – Thủ tục xét xử phúc thẩm

Điều 263. Phạm vi xét xử phúc thẩm

Điều 264. Những người tham gia phiên toà phúc thẩm

2. Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải tham gia phiên toà phúc thẩm trong trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị hoặc đã tham gia phiên toà sơ thẩm.

Điều 265. Tạm đình chỉ, đình chỉ xét xử phúc thẩm tại phiên toà

Tại phiên toà phúc thẩm, việc tạm đình chỉ, đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án được thực hiện theo quy định tại Điều 259 và Điều 260 của Bộ luật này.

Điều 266. Hoãn phiên toà phúc thẩm

1. Trường hợp Kiểm sát viên phải tham gia phiên toà vắng mặt thì phải hoãn phiên toà.

2. Người kháng cáo vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng thì phải hoãn phiên toà. Người kháng cáo đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ bỏ việc kháng cáo và Toà án ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm phần vụ án có kháng cáo của người kháng cáo vắng mặt.

3. Người tham gia tố tụng khác không phải là người kháng cáo vắng mặt tại phiên toà thì việc hoãn phiên toà hay vẫn tiến hành xét xử phúc thẩm được thực hiện theo quy định tại các điều 199, 200, 201, 202, 203, 204, 205 và 206 của Bộ luật này.

4. Thời hạn hoãn phiên toà và quyết định hoãn phiên toà phúc thẩm được thực hiện theo quy định tại Điều 208 của Bộ luật này.

Điều 267. Chuẩn bị khai mạc phiên toà phúc thẩm và thủ tục bắt đầu phiên toà phúc thẩm

Chuẩn bị khai mạc phiên toà phúc thẩm và thủ tục bắt đầu phiên toà phúc thẩm được thực hiện theo quy định tại các điều 212, 213, 214, 215 và 216 của Bộ luật này.

Điều 268. Việc hỏi tại phiên toà

1. Sau khi kết thúc thủ tục bắt đầu phiên toà phúc thẩm thì một thành viên của Hội đồng xét xử phúc thẩm công bố nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm và nội dung kháng cáo, kháng nghị.

2. Chủ toạ phiên toà hỏi về các vấn đề sau đây:

a) Hỏi nguyên đơn có rút đơn khởi kiện hay không;

b) Hỏi người kháng cáo, Kiểm sát viên có thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị hay không;

c) Hỏi các đương sự có thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không.

Điều 269. Nguyên đơn rút đơn khởi kiện trước khi mở phiên toà hoặc tại phiên toà phúc thẩm

1. Trước khi mở phiên toà hoặc tại phiên toà phúc thẩm nguyên đơn rút đơn khởi kiện thì Hội đồng xét xử phúc thẩm phải hỏi bị đơn có đồng ý hay không và tuỳ từng trường hợp mà giải quyết như sau:

a) Bị đơn không đồng ý thì không chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn;

b) Bị đơn đồng ý thì chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn. Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án. Trong trường hợp này, các đương sự vẫn phải chịu án phí sơ thẩm theo quyết định của Toà án cấp sơ thẩm và phải chịu một nửa án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

2. Trong trường hợp Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án thì nguyên đơn có quyền khởi kiện lại vụ án theo thủ tục do Bộ luật này quy định nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn.

Điều 270. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự tại phiên toà phúc thẩm

1. Tại phiên toà phúc thẩm, nếu các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và thoả thuận của họ là tự nguyện, không trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội thì Hội đồng xét xử phúc thẩm ra bản án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thoả thuận của các đương sự.

2. Các đương sự tự thoả thuận với nhau về việc chịu án phí sơ thẩm; nếu không thoả thuận được với nhau thì Toà án quyết định theo quy định của pháp luật.

Điều 271. Nghe lời trình bày của đương sự tại phiên toà phúc thẩm

1. Trong trường hợp có đương sự vẫn giữ kháng cáo hoặc Viện kiểm sát vẫn giữ kháng nghị và các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì Hội đồng xét xử phúc thẩm bắt đầu xét xử vụ án bằng việc nghe lời trình bày của các đương sự theo thứ tự sau đây:

Trong trường hợp chỉ có Viện kiểm sát kháng nghị thì Kiểm sát viên trình bày về nội dung kháng nghị và các căn cứ của việc kháng nghị; trong trường hợp vừa có kháng cáo, vừa có kháng nghị thì các đương sự trình bày về nội dung kháng cáo và các căn cứ của việc kháng cáo trước, sau đó Kiểm sát viên trình bày về nội dung kháng nghị và các căn cứ của việc kháng nghị;

2. Trong trường hợp đương sự không có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình thì họ tự trình bày ý kiến về nội dung kháng cáo, kháng nghị và đề nghị của mình.

3. Tại phiên toà phúc thẩm, đương sự, Kiểm sát viên có quyền xuất trình bổ sung chứng cứ.

Điều 272. Thủ tục hỏi và công bố tài liệu, xem xét vật chứng tại phiên toà phúc thẩm

1. Thủ tục hỏi những người tham gia tố tụng và công bố tài liệu, xem xét vật chứng tại phiên toà phúc thẩm được thực hiện như tại ph…

Về Đơn Kháng Cáo Phúc Thẩm Trong Tố Tụng Dân Sự (Ttds)

Bài viết: Về đơn kháng cáo phúc thẩm trong tố tụng dân sự TTDS

TÓM TẮT

ABSTRACT:

A party has right to appeal, and in order to be accepted that appeal must strictly follow the regulations on appellate. The Civil Procedure Code does not require the appeal application to include a title as “appellate application”. However, under a form of application that attached to the Resolution issued by the Council of Judges of the Supreme People’s Court, the title “appellate application” must be included. This article clarifies the importance of the title “appellate application” as well as the legal value of the form of application attached to the Resolution.

TỪ KHÓA: Kháng cáo, Đơn kháng cáo, Xét xử phúc thẩm, Tố tụng dân sự, Tạp chí Khoa học pháp lý

Quyết định số 20/2013/KDTM-GĐT ngày 09/7/2013 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

XÉT THẤY:

Ngày 14/12/2010, Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ đưa vụ án ra xét xử và ra Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 104/KDTM-ST buộc Caseamex phải trả lại cho bà Ling Xue Zeng 3.839.024.120 đồng. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn có quyết định về án phí; về trách nhiệm thi hành án; về quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Văn bản nêu trên của Caseamex (được làm trong thời hạn luật định) tuy không có tiêu đề là Đơn kháng cáo nhưng nội dung văn bản là đề nghị xem xét hủy bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành các thủ tục tố tụng về việc kháng cáo và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp phúc thẩm đúng quy định của pháp luật.

Tòa án cấp phúc thẩm xác nhận văn bản nêu trên của Caseamex không phải là đơn kháng cáo và ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án đối với Bản kiến nghị ngày 27/12/2010 của Caseamex là không đúng pháp luật. Vì vậy cần hủy Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án kinh doanh, thương mại nói trên và giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp phúc thẩm xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Căn cứ vào khoản 3 điều 291; khoản 3 điều 297; khoản 3 điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011),

QUYẾT ĐỊNH:

Hủy Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án kinh doanh, thương mại số 35/2011/QĐ-PT ngày 24/3/2011 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh.

Giao hồ sơ vụ án cho Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

BÌNH LUẬN

1. Dẫn nhập

Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị (khoản 1 Điều 17 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011 (sau đây gọi chung là BLTTDS) . Đối với đương sự, kháng cáo phúc thẩm là một quyền và quyền này được ghi nhận một cách minh thị tại Điều 243 BLTTDS theo đó “đương sự, người đại diện của đương sự, cơ quan, tổ chức khởi kiện có quyền làm đơn kháng cáo bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm”.

I. Tầm quan trọng của tiêu đề “Đơn kháng cáo”

2. Tòa sơ thẩm và phúc thẩm

Người kháng cáo thực hiện quyền kháng cáo của mình bằng hình thức văn bản gọi là đơn kháng cáo. Đây là phương tiện để truyền tải những nội dung, ý kiến của đương sự đối với bản án/quyết định sơ thẩm của Tòa án cấp sơ thẩm mà họ chưa thống nhất hoặc không đồng ý[4]. Trong đơn kháng cáo, đương sự có nhất thiết phải nêu tiêu đề là “Đơn kháng cáo” không?

Cụ thể, Tòa án cấp sơ thẩm (TAND TP Cần Thơ) đã tiến hành các thủ tục tố tụng về kháng cáo và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp phúc thẩm. Điều đó có nghĩa là Tòa án cấp sơ thẩm coi văn bản của Caseamex là một Đơn kháng cáo và xử lý như một Đơn kháng cáo. Tuy nhiên, Tòa án cấp phúc thẩm TANDTC lại ra Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án kinh doanh, thương mại số 35/2011/QĐ-PT với lý do: Bản kiến nghị đề ngày 27/12/2010 của Caseamex không phải là đơn kháng cáo, việc Tòa án cấp sơ thẩm thông báo cho đương sự nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm là không đúng và cần hoàn trả lại cho Caseamex. Như vậy Tòa Sơ thẩm và Tòa Phúc thẩm đã có cách hiểu khác nhau về vấn đề kháng cáo của Caseamex xuất phát từ việc Văn bản của Caseamex không có tiêu đề là “Đơn kháng cáo”.

3. Hướng của Tòa Giám đốc thẩm

Sau khi có quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm, Caseamex có đơn yêu cầu xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm đối với quyết định đình chỉ.

Theo Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, “Văn bản nêu trên của Caseamex (được làm trong thời hạn luật định) tuy không có tiêu đề là Đơn kháng cáo nhưng nội dung văn bản là đề nghị xem xét hủy bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ. Tòa án sơ thẩm đã tiến hành các thủ tục tố tụng về việc kháng cáo và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp phúc thẩm là đúng quy định pháp luật. Tòa án cấp phúc thẩm xác định văn bản nêu trên của Caseamex không phải là đơn kháng cáo và ra Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án đối với Bản kiến nghị ngày 27/12/2010 của Caseamex là không đúng pháp luật”. Như vậy, Tòa Giám đốc thẩm khẳng định Văn bản của Caseamex là một Đơn kháng cáo hợp lệ và cần phải xử lý như một Đơn kháng cáo cho dù văn bản này “không có tiêu đề là Đơn kháng cáo” khi “nội dung văn bản là đề nghị xem xét hủy bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ”. Việc khẳng định văn bản không có tiêu đề “Đơn kháng cáo” vẫn là Đơn kháng cáo của Tòa giám đốc thẩm còn được thể hiện ở xử lý hệ quả của việc hủy quyết định đình chỉ của Tòa phúc thẩm.

Cụ thể, Tòa Phúc thẩm cho rằng văn bản nêu trên không là Đơn kháng cáo nên đã đình chỉ xét xử phúc thẩm và kháng nghị của Viện kiểm sát theo hướng “hủy Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm” và “giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định pháp luật”. Với hướng này, có thể Tòa sơ thẩm sẽ buộc Caseamex làm lại đơn theo mẫu với tiêu đề là “Đơn kháng cáo”. Tuy nhiên, Hội đồng thẩm phán đã theo hướng khác: Hội đồng thẩm phán “hủy Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án kinh doanh, thương mại nói trên” và “giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp phúc thẩm xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật”. Ở đây, Caseamex không phải làm lại đơn và Tòa Phúc thẩm phải xét xử phúc thẩm. Điều đó có nghĩa là Văn bản của Caseamex đã đủ là một Đơn kháng cáo cho dù không có tiêu đề là “Đơn kháng cáo” nên Tòa Phúc thẩm phải xử lý như đã có Đơn kháng cáo hợp lệ.

4. Nhận xét

Nếu dựa vào mẫu Đơn kháng cáo kèm theo Nghị quyết số 05/2006/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ ba “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm” của BLTTDS (được nhắc lại trong Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ ba “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm” của BLTTDS[5]), chúng ta thấy hướng của Tòa phúc thẩm như trên phần nào có cơ sở. Bởi lẽ, trong mẫu Đơn kháng cáo kèm theo Nghị quyết, chúng ta thấy có nội dung “Đơn kháng cáo” như tiêu đề của Đơn. Do đó, khi đối chiếu văn bản của Caseamex so với mẫu Đơn kháng cáo kèm theo Nghị quyết, Tòa phúc thẩm đã theo hướng đây không là Đơn kháng cáo vì Văn bản của Caseamex không có cụm từ “Đơn kháng cáo”.

Tuy nhiên, xét từ góc độ BLTTDS, chúng ta thấy hướng của Tòa Phúc thẩm là không thuyết phục và hướng của Tòa Giám đốc thẩm là có căn cứ. Bởi lẽ, khoản 1 Điều 244 BLTTDS quy định “Đơn kháng cáo phải có các nội dung chính sau đây: a) Ngày, tháng, năm làm đơn kháng cáo; b) Tên, địa chỉ của người kháng cáo; c) Kháng cáo phần nào của bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật; d) Lý do của việc kháng cáo và yêu cầu của người kháng cáo; đ) Chữ ký hoặc điểm chỉ của người kháng cáo”. Điều luật này hoàn toàn không yêu cầu trong văn bản kháng cáo phải có nội dung, tiêu đề “Đơn kháng cáo”. Do đó, việc Tòa phúc thẩm chỉ dựa vào việc Văn bản của Caseamex không có nội dung, tiêu đề “Đơn kháng cáo” để cho rằng “Bản kiến nghị đề ngày 27/12/2010 của Caseamex không phải là đơn kháng cáo” là vượt quá yêu cầu của BLTTDS: BLTTDS không yêu cầu văn bản kháng cáo phải có tiêu đề “Đơn kháng cáo” nhưng Tòa phúc thẩm lại dựa vào việc văn bản của Caseamex không có tiêu đề “Đơn kháng cáo” đề cho rằng văn bản của Caseamex không là đơn kháng cáo.

II. Giá trị pháp lý của mẫu Đơn kháng cáo

5. Đặt vấn đề

Trong thực tế ở Việt Nam hiện nay thường gặp trường hợp không có sự đồng nhất giữa nội dung văn bản hướng dẫn và các mẫu kèm theo văn bản hướng dẫn: mẫu kèm theo có nhiều nội dung hơn nội dung văn bản hướng dẫn (nội dung trước phần người có thẩm quyền ký).

Văn bản hướng dẫn như Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán và văn bản được hướng dẫn như Luật, Bộ luật là văn bản quy phạm pháp luật theo Điều 2 Luật ban hành văn bản năm 2008 nên “có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội” (khoản 1 Điều 1 Luật ban hành văn bản năm 2008). Câu hỏi đặt ra là các nội dung có thêm trong Mẫu kèm theo văn bản hướng dẫn như trên có nằm trong nội hàm khái niệm văn bản quy phạm pháp luật hay không?

6. Quan điểm trái chiều

Trước vấn đề pháp lý nêu trên, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu nhưng không tìm được tài liệu nào đề cập giá trị của các nội dung nêu trong mẫu kèm theo văn bản hướng dẫn. Từ đó, chúng tôi đã tiến hành hỏi ý kiến của những chuyên gia về xây dựng văn bản và tố tụng nhưng câu trả lời lại không thống nhất.

7. Hướng của Tòa Giám đốc thẩm

Chúng ta thấy Văn bản kiến nghị của Caseamex không có tiêu đề với cụm từ là “Đơn kháng cáo” nhưng Mẫu 01 trong Nghị quyết nêu trên lại có tiêu đề với cụm từ “Đơn kháng cáo”.

Nếu chúng ta theo quan điểm thứ nhất nêu trên thì Mẫu 01 trong đó có tiêu đề với cụm từ “Đơn kháng cáo” có hiệu lực bắt buộc với đương sự vì nó có giá trị như văn bản quy phạm pháp luật. Dường như Tòa Phúc thẩm đã theo hướng này vì đã không coi Văn bản của Caseamex là đơn kháng cáo do thiếu tiêu đề với cụm từ “Đơn kháng cáo”. Tuy nhiên, Tòa giám đốc thẩm đã theo hướng khác là vẫn coi đây là đơn kháng cáo hợp lệ như đã thấy ở trên.

Như vậy, Tòa Giám đốc thẩm đã theo hướng những nội dung trong mẫu kèm theo Nghị quyết không ràng buộc các đương sự và Tòa án không thể dựa vào mẫu này để từ chối quyền kháng cáo của đương sự. Việc không coi Mẫu kèm theo Nghị quyết có giá trị ràng buộc như văn bản quy phạm pháp luật còn được củng cố thêm bằng việc, trong Quyết định của mình, Hội đồng thẩm phán không đề cập tới Mẫu 01 kèm theo Nghị quyết.

8. Nhận xét

Hướng xác định mẫu đơn kháng cáo kèm theo Nghị quyết (mà rộng hơn là các mẫu trong Văn bản hướng dẫn) không phải là văn bản quy phạm pháp luật (tức không chứa đựng các quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung và được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội) như trình bày ở trên là thuyết phục vì các lý do sau:

Thứ hai, nếu cơ quan chủ trì xây dựng văn bản hướng dẫn kèm theo mẫu muốn coi một nội dung nào đó như văn bản quy phạm pháp luật thì phải đưa vào thân văn bản. Việc cơ quan chủ trì chỉ đưa những nội dung chưa có trong thân văn bản vào mẫu kèm theo có thể cho phép chúng ta suy luận rằng cơ quan chủ quản không muốn nội dung này có giá trị như văn bản quy phạm pháp luật. Nói cách khác, thân văn bản quy phạm pháp luật và mẫu kèm theo không nên có cùng giá trị pháp lý.

9. Kết luận

Trước sự không thống nhất giữa mẫu kèm theo Nghị quyết và Nghị quyết theo hướng mẫu đưa ra nội dung chưa có trong thân của Nghị quyết, chúng ta đã thấy phát sinh khó khăn trong việc vận dụng.

Vụ việc trên đã phải trải qua nhiều cấp xem xét chỉ vì lý do đương sự không làm theo mẫu kèm theo Nghị quyết hướng dẫn trong tố tụng dân sự. Thực trạng này gây tốn kém cho Nhà nước (vì cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải xem xét nhiều lần) cũng như cho đương sự (mất thời gian khiếu nại và đợi kết quả, tốn kém chi phí phát sinh…). Do đó, khi làm đơn kháng cáo, các đương sự nên làm theo mẫu kèm theo Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán để tránh những phiền toái như vừa trình bày. Về phía cơ quan tố tụng, nếu đương sự có văn bản chống lại bản án hay quyết định sơ thẩm nhưng thiếu tiêu đề với cụm từ “Đơn kháng cáo” thì cũng không vội vàng từ chối yêu cầu của đương sự như Tòa Phúc thẩm đã làm vì luật không yêu cầu đơn kháng cáo phải kèm theo tiêu đề như trên.

CHÚ THÍCH

* PGS-TS, Trưởng Khoa Luật Dân sự, Trường ĐH Luật Tp. Hồ Chí Minh, Thành viên Tổ biên tập BLDS sửa đổi.

** Giảng viên Khoa Luật Dân sự, Trường ĐH Luật Tp. Hồ Chí Minh.

[1] Khoản 5 Điều 238 BLTTDS yêu cầu bản án sơ thẩm “trong phần quyết định phải ghi rõ các quyết định của Toà án về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án, về án phí và quyền kháng cáo đối với bản án”.

[2] Học viện tư pháp, Giáo trình Luật tố tụng dân sự, Nxb. Công an nhân dân, 2007, tr. 395.

[3] Tống Công Cường, Luật Tố tụng dân sự Việt Nam – Nghiên cứu so sánh, Nxb Đại học quốc gia Tp. Hồ Chí Minh, 2007, tr. 360.

[4] Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, 2013, tr. 328.

[7] Từ khoản 1 đến khoản 3 Điều 901 BLTTDS Pháp.

[8] Khoản 4 Điều 901 BLTTDS Pháp.

[9] Khoản 5 Điều 901 BLTTDS Pháp.

[10] Về đơn kháng cáo ở Pháp, xem Serge Guinchard, Cécile Chainais, Frédérique Ferrand, Procédure civil Droit interne et droit de l’Union européenne, Nxb. Précis-Dalloz, 2012, tr. 1256.

[11] Khoản 10 Điều 71 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 về Tòa án xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài chỉ quy định “Quyết định của Tòa án là quyết định cuối cùng và có hiệu lực thi hành”.

[12] Về quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, xem Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh, Giáo trình xây dựng văn bản pháp luật, Nxb. Hồng Đức, 2012, tr. 173 và tiếp theo.

Bạn đang xem bài viết Kháng Nghị Đối Với Bản Án Hình Sự Phúc Thẩm Tội “Đánh Bạc” trên website Toiyeucogaihalan.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!