Xem Nhiều 12/2022 #️ Dùng Dấu Hỏi Và Ngã / 2023 # Top 20 Trend | Toiyeucogaihalan.com

Xem Nhiều 12/2022 # Dùng Dấu Hỏi Và Ngã / 2023 # Top 20 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Dùng Dấu Hỏi Và Ngã / 2023 mới nhất trên website Toiyeucogaihalan.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Dùng dấu hỏi và ngã

Dấu hỏi đi với sắc

Gởi gắm, thổn thức, rải rác, khoảnh khắc, rẻ rúng, tử tế, cảnh cáo, sửng sốt, hảo hán, phản phúc, phản kháng, rửa ráy, quả quyết, khủng khiếp, khỏe khoắn, nhảm nhí, lở loét, lảnh lót, bảo bối, thưởng thức, thẳng thắn, thảng thốt, hiển hách, nhỏ nhắn, chải chuốt, rả rích, phảng phất, lả lướt, bổ báng, sản xuất.

Mát mẻ, sắc sảo, mắng mỏ, vất vả, hối hả, hớn hở, xối xả, bóng bẩy, nóng nảy, sắp sửa, sắm sửa, hớt hải, lấp lửng, khúc khuỷu, tá lả, rác rưởi, trống trải, cứng cỏi, sáng sủa, sến sẩm, xấp xỉ, lém lỉnh, láu lỉnh, ngắn ngủi, chống chỏi, hốt hoảng, rắn rỏi, tức tưởi, chúi nhủi, nhắc nhở, nức nở, sấn sổ, ngất ngưởng, thắc thỏm, thấp thỏm, trắc trở, tráo trở, béo bở, ngái ngủ, gắt gỏng, kém cỏi, khấp khểnh, cáu kỉnh, kháu khỉnh, thất thểu, khốn khổ, tán tỉnh, ngúng nguẩy.

Dấu hỏi đi với ngang

Nhỏ nhen, nhởn nhơ, ngẩn ngơ, vẩn vơ, lẳng lơ, lẻ loi, hỏi han, nở nang, nể nang, ngổn ngang, dở dang, giỏi giang, sửa sang, thở than, mỏng manh, chỉn chu, dửng dưng, trả treo, tả tơi, bỏ bê, mải mê, chở che, bảnh bao, hẩm hiu, phẳng phiu, khẳng khiu, rủi ro, mỉa mai, trẻ trung, nghỉ ngơi, ngủ nghê, tỉ tê, xỏ xiên, ngả nghiêng, đảo điên, hiển nhiên, lẻ loi, thảnh thơi, sản sinh.

Dư dả, chăm chỉ, năn nỉ, thư thả, thon thả, thoang thoảng, trong trẻo, trăn trở, vui vẻ, thơ thẩn, thanh thản, mơn mởn, xăm xỉa, lêu lổng, hư hỏng, căng thẳng, dai dẳng, xây xẩm, san sẻ, xoay sở, hăm hở, xa xỉ, ngoe nguẩy, phe phẩy, đông đủ, tanh tưởi, chưng hửng, tiu nghỉu, sang sảng, nham nhở, chao đảo, gây gổ, sơ hở, cơ sở, tin tưởng, năng nổ, cưa cẩm, thăm thẳm, đưa đẩy, tưng tửng, say xỉn.

Dấu ngã đi với huyền

Bẽ bàng, vẫy vùng, nõn nà, vững vàng, đẫy đà, phũ phàng, bão bùng, sỗ sàng, vỗ về, rõ ràng, vẽ vời, sững sờ, ngỡ ngàng, hỗn hào, hãi hùng, sẵn sàng, kỹ càng, não nề, khẽ khàng, mỡ màng, lỡ làng.

Gần gũi, liều lĩnh, lầm lỗi, gìn giữ, buồn bã, tầm tã, suồng sã, rầu rĩ, thờ thẫn, hờ hững, sàm sỡ, xoàng xĩnh, phè phỡn, bừa bãi, thừa thãi, nghề ngỗng, lừng lẫy, ruồng rẫy, lờ lững, đằng đẵng, mò mẫm, lầm lũi, nhàn nhã, bằng hữu.

Dấu ngã đi với nặng

Lãng mạn, lũ lụt, hãm hại, nhẫn nhịn, lễ lộc, lỗi lạc, rũ rượi, lưỡng lự, chễm chệ, nhã nhặn, mẫu mực, chững chạc, dõng dạc, dữ dội, cãi cọ, nhão nhoẹt, kẽo kẹt, kĩu kịt, nhễ nhại, rõ rệt, lẫn lộn.

Gọn ghẽ, ngạo nghễ, vạm vỡ, lặng lẽ, lạnh lẽo, bạc bẽo, sặc sỡ, rực rỡ, rộn rã, vội vã, nghiệt Ngã, hậu hĩ, hậu hĩnh, ngộ nghĩnh, gạt gẫm, hụt hẫng, dựa dẫm, nhẹ nhõm, bập bõm, chập chững, mạnh mẽ, chặt chẽ, sạch sẽ, ngặt nghẽo, khập khiễng, đục đẽo, ruộng rẫy, giặc giã, giặt giũ, giận dỗi, bụ bẫm, dạy dỗ, gặp gỡ, dụ dỗ, lạ lẫm, rộng rãi, tục tĩu, nhục nhã, dạn dĩ, rạng rỡ, rệu rã.

Từ kép là từ thường đi một cặp dấu hỏi hoặc ngã

Lã chã, bỗ bã, bẽn lẽn, bỡ ngỡ, mỹ mãn, dễ dãi, cũn cỡn, lững thững, ngẫm nghĩ, lỗ lã, lẽo đẽo, nhõng nhẽo, mũm mĩm, mẫu mã, vĩnh viễn, nhễu nhão.

Thỏ thẻ, đỏng đảnh, lẻ tẻ, của cải, lẩm bẩm, lẩm cẩm, lảm nhảm, hể hả, kể lể, nhỏng nhảnh, lủng củng, thỉnh thoảng, lảo đảo, tỉ mỉ, thủ thỉ, lảng vảng, rủng rỉnh, loảng xoảng, hổn hển, lủng lẳng, lỏng lẻo, lải nhải, tủm tỉm, bủn rủn, xởi lởi, tẩn mẩn, lẩn quẩn, thỏn mỏn, chỏn lỏn, giả lả, bải hoải, bổi hổi, lẩn thẩn, lởm chởm, rỉ rả, thủng thẳng, bỏm bẻm, nhỏm nhẻm, xiểng niểng, lẩy bẩy.

Từ nguyên âm đi với dấu hỏi

Ủa, ổi, ổng, ẩu, ủng, ỷ, ổn, ửng, ổ, ủy, ỏn ẻn, ong ỏng, im ỉm, âm ỉ, ấp ủ, ảo ảnh, ăn ở, êm ả, oi ả, yên ả, óng ả, ẩn ý, an ủi, ỉ ôi, ẩm ướt, ủ ê, uể oải, ít ỏi, ủn ỉn, oan uổng, ăng ẳng, ư ử, oẳn tù tì, ẻo lả, ủ rũ, yểu điệu, ỉu xìu, ảm đạm, uyển chuyển, quan ải, oản xôi, yểm trợ (trừ: ễnh, ưỡn, ẵm, ỡm)

Từ Hán Việt bắt đầu là M, N, NH, L, V, D, NG thì dấu ngã, các chữ khác dấu hỏi.

Ghi nhớ 7 chữ này bằng câu “Mình Nên Nhớ Là Viết Dấu Ngã.”

M: Mỹ nhân, Mẫu giáo, Mã đáo, Mãn nguyện, Mãng xà, Mãnh lực, Mẫn cán, Miễn nhiệm, Mão mũ

N: Não bộ, Nữ nhi, Noãn hoa, Nỗ lực, Nã (truy nã)

NH: Nhẫn tâm, Nhãn tiền, Nhiễu loạn, Nhũ mẫu, Nhã nhạc, Nhã nhặn, Nhuyễn thể, Nhĩ (mộc nhĩ), Nhưỡng (thổ nhưỡng)

L: Lão gia, Lễ nghi, Lĩnh hội, Lỗi lạc, Lữ khách, Lãng tử, Lưỡng tính, Lãnh địa, Luỹ thành, Lãm nguyệt, Lẫm liệt

V: Vãn hồi, Viễn xứ, Vĩ đại, Võ sư, Vũ trang, Vĩnh hằng, Vững chãi

D: Diễm phúc, Dũng khí, Dưỡng dục, Dĩ nhiên, Dõng dạc, Diễu hành, Dã ngoại, Dã tâm, Diễn thuyết

NG: Nghĩa hiệp, Ngũ cốc, Ngữ hệ, Ngẫu nhiên, Nghiễm nhiên, Ngưỡng mộ, Ngã (bản Ngã)

Họ và trạng từ đi với dấu ngã

Họ Nguyễn, Võ, Vũ, Đỗ, Doãn, Lữ, Lã, Mã, Liễu, Nhữ

Cũng, vẫn, sẽ, mãi, đã, những, hỡi, hễ, lẽ ra, mỗi, nữa, dẫu…

Dùng dấu bằng cách suy luận theo nghĩa

Nổi hay Nỗi

Chỉ sự trổi lên hơn mức bình thường thì dấu hỏi (nổi trội, nổi bật, nổi danh, nổi tiếng, nổi mụn, nổi gân, nổi điên, nổi giận, nổi xung, nổi hứng, nổi sóng, nổi bọt, nổi dậy, chợ nổi, nông nổi, làm nổi, trôi nổi, hết nói nổi, chịu hết nổi, gánh không nổi)

Cái nào mang tính biểu cảm thì dấu ngã (khổ nỗi, đến nỗi nào, làm gì nên nỗi, nỗi lòng, nỗi niềm, nỗi ước ao, nỗi nhục, nỗi oan, nỗi hận, nỗi nhớ)

Nghỉ hay Nghĩ

Thể hiện cảm xúc suy nghĩ thì dấu ngã (nghĩ ngợi, suy nghĩ, ngẫm nghĩ, nghĩ cách, thầm nghĩ, nghĩ quẫn, nghĩ bậy, cạn nghĩ)

Mảnh hay Mãnh

Cái nào gợi hình dáng thì dấu hỏi (mảnh trăng, mảnh ruộng, mảnh vườn, mảnh đất, mảnh xương, mảnh sành, mảnh vỡ, mảnh khảnh, mảnh mai, mảnh khăn, mảnh áo, mảnh vá, mảnh tình, mỏng mảnh)

Thể hiện tính chất thì dấu ngã (dũng mãnh, mãnh liệt, ranh mãnh, ma mãnh, mãnh hổ, mãnh thú, mãnh lực)

Kỷ hay Kỹ

Gắn với bản thân con người thì dấu hỏi (kỷ vật, kỷ niệm, kỷ luật, kỷ lục, kỷ yếu, ích kỷ, tự kỷ, vị kỷ, tri kỷ, thế kỷ, thập kỷ)

Gắn với kỹ thuật, trình độ thao tác thì dấu ngã (Kỹ nghệ, kỹ năng, kỹ xảo, kỹ thuật, kỹ sư, kỹ nữ, kỹ lưỡng, kỹ càng, kỹ tính, nghĩ kỹ, giấu kỹ, tuyệt kỹ)

Chú ý

Qui ước cơ bản chứ không tuyệt đối, vẫn có một số từ ngoại lệ không theo qui ước trên như: hủ tục, hủ bại (hỏi đi với nặng).

Chữ “nữa” viết dấu ngã trong đa số trường hợp, chỉ khi nói về số lượng chia hai như “phân nửa,” “một nửa” thì viết dấu hỏi.

Bài viết có thể hữu ích (有益) cho những ai thường phạm lỗi chính tả “hỏi ngã”. Tuy nhiên, phải nên nói rõ hơn là luật “trắc, bằng” thường đi kèm theo với dấu “hỏi” và “nặng huyền” thì thường đi kèm với dấu “ngã” thì chỉ nên áp dụng với chữ kép “thuần” Việt mà thôi. Còn nếu là những từ kép Hán Việt thì “quy luật” đó không có được hiệu nghiệm cho lắm.

Ví dụ như chữ “sản xuất” (產出) ở trên là tiếng Hán Việt và “tình cờ” nó đi theo cái luật “bằng, trắc.” Tuy nhiên, nếu là “cộng sản” (共產) hay “tài sản” (財產) thì nó lại không có hợp với luật “huyền nặng.”

Lý do là vì chữ Hán Việt không hề thay đổi từ “hỏi” sang “ngã” hay ngược lại, khi cái chữ đó đi kẹp với những chữ có những dấu khác nhau.

Một khi chữ “sản” đã được viết với dấu “hỏi” rồi thì cho dù nó có đi kẹp với dấu gì đi nữa thì nó vẫn phải viết với dấu hỏi mà thôi.

Giống như chữ “phản ứng” (反應) thì là đúng với quy luật, dấu “hỏi” đi kèm với dấu “sắc”, nhưng “phản hồi” (反囘) thì không theo quy luật vì viết với dấu hỏi, nhưng lại đi kèm theo với dấu “huyền.”

Dấu Hỏi (?) &Amp; Dấu Ngã (~) / 2023

Văn hóa Việt Nam của chúng ta vô cùng phong phú. Một trong những nguồn phong phú vô ngàn mà trên thế giới không ai có, đó là ý nghĩa về dấu hỏi ngã Thật thế, dấu hỏi ngã trong tiếng Việt đóng một vai trò quan trọng. Viết sai dấu hỏi ngã sẽ làm đảo ngược và có khi vô cùng tai hại cho văn chương và văn hóa Việt Nam.

Chúng tôi xin đơn cử một vài trường hợp như sau : Danh từ nhân sĩ, chữ sĩ phải được viết bằng dấu ngã để mô tả một vị chính khách có kiến thức văn hóa chính tri… , nhưng nếu vô tình chúng ta viết nhân sỉ, chữ sỉ với dấu hỏi thì ý nghĩa của danh từ nhân sĩ sẽ bị đảo ngược lại, vì chữ sĩ với dấu hỏi có nghĩa là nhục sĩ và như vậy sẽ bị trái nghĩa hoàn toàn.

Một chữ thông thường khác như là hai chữ sửa chữa, nếu bỏ đi dấu hỏi ngã sẽ có nhiều ý khác nhau: sửa chữa (sửa dấu hỏi, chữa dấu ngã) tức là chúng ta sửa lại một cái gì bị hư hỏng, thí dụ sửa chữa xe hơi. Nhưng nếu cho dấu ngã vào thành chữ sữa và dấu hỏi trên chữ chửa tức có nghĩa là sữa của những người đàn bà có thai nghén.

Người sai lỗi nhiều nhất về viết sai dấu hỏi ngã là người miền Nam và Trung (người viết bài này là người miền Trung).May mắn nhất là người thuộc miền Bắc khi sinh ra là nói và viết dấu hỏi ngã không cần phải suy nghĩ gì cả. Nhưng khốn nỗi có khi hỏi họ tại sao chữ này viết dấu hỏi chữ kia lại đánh dấu ngã thì họ lại không cắt nghĩa được mà chỉ nở một nụ cười trên môi…

Bài viết này nhằm mục đích đóng góp một vài qui luật về dấu hỏi ngã của tiếng mẹ đẻ Việt Nam chúng ta.

Dấu hỏi ngã được căn cứ vào ba qui luật căn bản: Luật bằng trắc, chữ Hán Việt và các qui luật ngoại lệ.

Qui luật bằng trắc phải được hiểu theo ba qui ước sau.

Danh từ lập láy tức là một chữ có nghĩa nhưng chữ ghép đi theo chữ kia không có nghĩa gì cả.

Thí dụ: vui vẻ, chữ vui có nghĩa mà chữ vẻ lại không nghĩa, chữ mạnh mẽ, chữ mạnh có nghĩa nhưng chữ mẽ lại không hề mang một ý nghĩa nào hết, hoặc chữ lặng lẽ, vẻ vang…

Không dấu và dấu sắc đi theo với danh từ lập láy thì chữ đó viết bằng dấu hỏi (ngang sắc hỏi).

Hớn hở: chữ hớn có dấu sắc, thì chữ hở phải là dấu hỏi.

Vui vẻ: chữ vui không dấu, thì chữ vẻ đương nhiên phải dấu hỏi.

Hỏi han: chữ han không dấu, như thế chữ hỏi phải có dấu hỏi.

Vớ vẩn: chữ vớ là dấu sắc thì chữ vẩn phải có dấu hỏi.

Tương tự như mắng mỏ, ngớ ngẩn, hở hang,…

Dấu huyền và dấu nặng đi theo một danh từ lập láy thì được viết bằng dấu ngã (huyền nặng ngã).

Sẵn sàng: chữ sàng có dấu huyền thì chữ sẵn phải là dấu ngã.

Ngỡ ngàng: chữ ngàng với dấu huyền thì chữ ngỡ phải để dấu ngã.

Mạnh mẽ: chữ mãnh có dấu nặng, do đó chữ mẽ phải viết dấu ngã.

Tương tự như các trường hợp lặng lẽ, vững vàng,…

Văn chương Việt Nam sử dụng rất nhiều từ Hán Việt, chúng ta hay quen dùng hằng ngày nên cứ xem như là tiếng Việt hoàn toàn. Thí dụ như các chữ thành kiến, lữ hành, lãng du, viễn xứ,… tất cả đều do chữ Hán mà ra.

Đối với chữ Hán Việt được sử dụng trong văn chương Việt Nam, luật về đánh dấu hỏi ngã được qui định như sau:

Tất cả những chữ Hán Việt nào bắt đầu bằng các chữ D, L, V, M và N đều viết bằng dấu ngã, các chữ Hán Việt khác không bắt đầu bằng năm mẫu tự này sẽ được viết bằng dấu hỏi.

Dĩ vãng: hai chữ này phải viết dấu ngã vì dĩ vãng không những là hán tự mà còn bắt đầu bằng chữ D và V.

Vĩ đại: vĩ có dấu ngã vì chữ vĩ bắt đầu với mẫu tự V.

Ngẫu nhiên: chữ ngẫu dấu ngã vì áp dụng qui luật Hán Việt nói trên.

Lẽ phải: lẽ dấu ngã vì chữ L, phải dấu hỏi vì có chữ P.

Tư tưởng: chữ tưởng phải viết dấu hỏi vì vần T đứng đầu.

Tương tự như: lữ hành, vĩnh viễn,…

Để có thể nhớ luật Hán tự dễ dàng, chúng tôi đặt một câu châm ngôn như thế này:

để dễ nhớ mỗi khi muốn sử dụng qui luật Hán tự nói trên.

Các chữ về trạng từ thường viết bằng dấu ngã.

Thôi thế cũng được.Trạng từ cũng viết với dấu ngã.

Xin anh đừng trách em nữa.Trạng tự nữa viết với dấu ngã.

Chắc anh đã mệt lắm rồi.Trạng từ đã viết với dấu ngã.

2. Tên họ cá nhân và quốc gia

Các họ của mỗi người và tên của một quốc gia thường được viết bằng dấu ngã.

Đỗ đình Tuân, Lữ đình Thông, Nguyễn ngọc Yến…

Các chữ Đỗ, Lữ, Nguyễn đều viết bằng dấu ngã vì đây là danh xưng họ hàng.

Các chữ Mỹ và Hãn phải viết bằng dấu ngã vì đây là tên của một quốc gia.

Một qui ước thừa trừ ta có thể dùng là đoán nghĩa để áp dụng theo luật lập láy và bằng trắc nói trên.

Anh bỏ em đi lẻ một mình.Chữ lẻ viết dấu hỏi vì từ chữ lẻ loi mà ra, chữ loi không dấu nên chữ lẻ viết với dấu hỏi.

Anh này trông thật khỏe mạnh, chữ khỏe ở đây có dấu hỏi vì do từ khỏe khoắn mà ra, khoắn dấu sắc thì khỏe phải dấu hỏi.

Văn chương là linh hồn của nền văn hóa, viết sai dấu hỏi ngã có thể làm sai lạc cả câu văn, đó là chưa kể đến nhiều sự hiểu lầm tai hại cho chính mình và người khác cũng như các việc trọng đại. Không gì khó chịu cho bằng khi đọc một cuốn truyện hay nhưng dấu hỏi ngã không được chỉnh tề.

Một ký giả người miền Nam trong câu chuyện thân mật tại một quán phở thuộc vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn đã thành thật công nhận điều thiếu sót và tầm quan trọng của dấu hỏi ngã trong văn chương Việt Nam.Và cũng chính vị ký giả lão thành nói trên đã khuyến khích chúng tôi viết bài này trong mục đích làm sống lại sự phong phú của nền văn chương, văn hóa Việt Nam chúng ta, nhất là đối với những thế hệ trẻ hiện đang lưu lạc trên xứ người.

Giúp Học Sinh Tiểu Học Viết Đúng Dấu Hỏi/ Dấu Ngã / 2023

Hiện tượng viết sai chính tả ở trẻ em bậc Tiểu học khá phổ biến. Đặc biệt đối với HS là người miền Trung, việc viết sai thanh hỏi/thanh ngã chiếm tỷ lệ khá cao. Lỗi này do nhiều nguyên nhân như: phát âm sai; thời gian thực hành luyện viết chính tả cho các em còn hạn chế; giáo viên (GV) chưa phân tích và sửa chữa lỗi sai chính tả cho những HS viết sai; một số sách, tài liệu học tập còn in sai lỗi chính tả ở một số văn bản; và một nguyên nhân lớn hơn là một số GV chưa nắm vững các quy tắc, cơ sở khoa học để hướng dẫn cho HS.

Làm thế nào biết được tiếng nào viết dấu hỏi, tiếng nào viết dấu ngã? Không có con đường nào ngoài việc là phải học, phải rèn luyện nhiều, trở thành thói quen mới viết đúng. Nhiều người nhận xét thấy người miền Bắc viết đúng chính tả hỏi/ngã hơn người miềnNamvà miền Trung. Họ viết đúng và dễ dàng, gần như không cần học một quy tắc nào cả. Tại sao vậy? Đơn giản vì người miền Bắc nói và đọc chữ dấu hỏi khác với chữ dấu ngã. Khi nghe tiếng có giọng dấu nào thì viết chữ với dấu đó, dễ như viết dấu sắc và dấu huyền. Điều đó có nghĩa, môi trường giao tiếp tự nhiên cũng góp phần quan trọng không nhỏ trong việc rèn cho HS phát âm đúng dẫn đến viết đúng. Vậy thì, trước hết chúng ta rèn luyện cho HS viết đúng theo phương pháp tự nhiên.

II.Biện pháp: 1. Thực hành qua giao tiếp tự nhiên

Cái khó của HS miền Trung là không có môi trường giao tiếp tự nhiên ấy bởi vì xung quanh có rất nhiều người nói và viết sai hỏi/ngã. Một trong những biện pháp giúp HS tiểu học bắt chước tốt là yêu cầu HS tìm những tiếng, từ, chữ được viết dấu hỏi/ngã có trong bài đọc (hoặc ngoài bài đọc) mà các em đã được tiếp xúc. Chẳng hạn, tìm trong bài thơ Mẹ ( Tiếng Việt 2, tập 1, tr.102):

– Những tiếng có thanh hỏi.

Hoặc, bài tập điền dấu hỏi/ngã lên các chữ in nghiêng trong các văn bản đã được học như:

Tôi lại nhìn, như đôi mắt tre thơ

Tô quốc tôi. Chưa đẹp thế bao giờ!

Xanh núi, xanh sông, xanh đồng, xanh biên

Xanh trời, xanh cua nhưng ước mơ …

( Bài tập 2.b, Tiếng Việt 4, tập 1, tr.27)

Với những bài tập thuộc dạng này, GV không bắt buộc HS phải giải thích lý do tại sao lại viết là dấu hỏi/ngã mà chỉ yêu cầu HS tìm hoặc nhớ lại bài đọc để viết lại cho đúng. Lâu dần sẽ tạo cho HS thói quen viết đúng.

Trong tiếng Việt, tiếng có thanh hỏi chiếm tỷ lệ nhiều hơn thanh ngã. Chúng ta hướng dẫn HS học những tiếng thanh ngã, những tiếng còn lại là thanh hỏi, sẽ đỡ tốn công hơn. Cần nên vận dụng tất cả các cơ quan: tai nghe, mắt nhìn, tay viết. Cho HS đọc kỹ những văn bản viết dấu đúng chính tả, và nhất là tập viết đúng cho quen mắt, quen tay. Càng được thực hành nhiều, HS sẽ có kỹ năng viết đúng hỏi/ngã. Song, việc rèn cho HS học tập như vậy không phải không có cơ sở, căn cứ khoa học của nó.

2. Dựa vào những cơ sở, căn cứ khoa học

Ngoài việc thường xuyên tổ chức cho học sinh học thông qua giao tiếp tự nhiên như đã trình bày trên, GV phải nắm được quy luật, cơ sở khoa học của cách viết đúng dấu hỏi/ngã. Phương pháp này đòi hỏi nhiều hiểu biết về ngữ âm học, áp dụng những quy luật biến dị của âm thanh và về từ nguyên học để tìm tòi gốc rễ của mỗi tiếng.

2.1. Cách viết hỏi/ngã trong từ Từ Hán – Việt

Dù muốn hay không, trải qua hơn nghìn năm đô hộ của Trung Quốc, Việt Namchúng ta chịu ảnh hưởng rất lớn bởi nền văn hóa Trung Hoa. Mặc dù đã cải biến và chữ viết được thay thế bằng chữ Quốc ngữ, nhưng còn nhiều từ chúng ta dùng thường ngày là từ Hán – Việt, chiếm tỷ lệ đến 70% tổng số từ trong tiếng Việt. Viết hỏi/ngã trong từ Hán – Việt không theo một quy tắc, quy luật nào cả, chỉ có mẹo giúp chúng ta viết đúng hỏi/ngã. Đó là, viết dấu ngã tất cả những tiếng bắt đầu bằng D, L, V, M, N, Nh, Ng và Ngh; hay nhớ câu: ” Mình Nên Nhớ Viết Là Dấu Ng ã”. Ví dụ: dĩ vãng, dã man, lãng du, lãnh đạm, viễn xứ, vĩ nhân, mỹ miều, cần mẫn, nỗ lực, não nề, hàng ngũ, ngôn ngữ, nghiễm nhiên, …

Ngoài các tiếng bắt đầu bằng những phụ âm đã nêu trên, từ Hán – Việt được viết bằng phụ âm khác hoặc không có phụ âm được viết bằng dấu hỏi, ví dụ như: đảo điên, tưởng tượng, kiểu cách, … Nhưng vẫn có một số trường hợp ngoại lệ vẫn viết bằng dấu ngã: kỹ (kỹ thuật, kỹ xảo), bãi (bãi bỏ, bãi khóa), hữu (bằng hữu, hữu nghị), phẫu (phẫu thuật, giải phẫu), tiễn (tiễn đưa, tiễn biệt, tống tiễn), …

Một trong các dạng bài tập giúp HS viết đúng hỏi/ngã trong từ Hán – Việt: Các từ Hán – Việt sau đây theo đúng quy luật hỏi ngã. Hãy sửa lại lỗi chính tả (nếu có).

– diễn biến, biễu diển, hướng dẩn, hùng dũng, vủ khúc, ô nhiểm, lảng phí, kiều diễm, khã năng, thủy triều, thế kỹ, …

2.2. Cách viết hỏi/ngã trong từ Láy

Từ láy là những từ ghép gồm hai (hay nhiều) tiếng mà một trong các tiếng đó hoàn toàn không có nghĩa nếu tách ra riêng lẻ. Ví dụ: buồn bã, liều lĩnh, hoàn hảo, lảo đảo, … Gặp những tiếng chưa có cặp có đôi, thì cố tìm tiếng láy ghép vào cho có cặp, sau đó áp dụng qui tắc: huyền – ngã – nặng; sắc – hỏi – không (luật thuận thanh hay quy tắc hài thanh) hỗ trợ để viết đúng hỏi/ngã. Thí dụ gặp chữ kỹ/kỷ, nếu nghĩa trong câu cho phép ghép được với càng thành kỹ càng thì kỹ dấu ngã (do càng viết dấu huyền). Cách viết hỏi/ngã trong từ láy theo luật thuận thanh có các trường hợp sau:

+ Ngã – huyền: bẽ bàng, buồn bã, lờ lững, ngỡ ngàng, …

+ Ngã – nặng: cãi cọ, đẹp đẽ, giãy giụa, rõ rệt, …

+ Ngã – ngã: bẽn lẽn, bỡ ngỡ, lững thững, …

+ Hỏi – sắc: hối hả, mới mẻ, ngất ngưởng, …

+ Hỏi – không: Bảnh bao, lẻ loi, nghỉ ngơi, sửa sang, …

+ Hỏi – hỏi: đủng đỉnh, lỏng lẻo, lởm chởm, tỉ mỉ, thỏ thẻ, …

Còn có cách tìm xem chữ cùng nghĩa với chữ chưa biết viết hỏi hay ngã thuộc thanh nào, để quyết định theo luật thuận thanh. Thí dụ gặp chữ mảnh vải, chữ cùng nghĩa với mảnh là miếng – thanh sắc, vậy mảnh dấu hỏi. Còn mãnh hổ, mãnh có nghĩa là mạnh – thanh nặng, nên mãnh viết bằng dấu ngã.

Phân môn Chính tả ở Tiểu học có các dạng bài tập rèn luyện cách viết hỏi/ngã trong từ láy như:

– Tìm 3 từ láy bắt đầu bằng tiếng có thanh hỏi (nghỉ ngơi);

– Tìm 3 từ láy bắt đầu bằng tiếng có thanh ngã (nghĩ ngợi).

( Bài tập 2.b, Tiếng Việt 4, tập 1, tr.56)

Hoặc, chúng ta có thể giới thiệu bài tập dạng: Tạo một từ láy với mỗi tiếng sau đây: củ – cũ; giả – giả; hải – hãi; rả – rã; thẫn – thẫn; …

Ngoài ra, những phó từ trong câu thường được viết bằng dấu ngã. Ví dụ, anhnghĩ như em. Hay, tôinói với ông rồi mà. Từ cũng, đã được viết bằng dấu ngã. Không thể viết củng, đả trong hai câu trên.

2.3. Dựa vào nghĩa của từ để viết hỏi/ngã

Nhiều trường hợp dựa vào các quy tắc và mẹo nói trên cũng chưa xác định được là viết dấu hỏi hay dấu ngã, chúng ta phải dựa vào nghĩa của từ để viết. Ví dụ ở bài tập: Điền vào chỗ trống:

– đổ hay đỗ: … rác, thi …, trời … mưa, xe …lại.

– rủ hay rũ: Cười … rượi, lá … xuống mặt hồ.

Ở bài tập này, HS khó phân biệt được đổ/đỗ và rủ/rũ để điền vào chỗ phù hợp. GV cần phải giải thích nghĩa của các từ cho HS hiểu mới có thể làm được. Đổ: (1) nằm xuống mạnh và đột nhiên ( cây đổ, nhà đổ); (2) nói xe nghiêng ( tàu đổ mất ba toa); (3) chảy ra ( đã đổ máu, đổ mồ hôi); (4) gán cho ( đổ vạ, đổ tội). Đỗ: (1) với nghĩa dừng lại ( tàu đỗ lại); (2) nghĩa đỗ đạt ( đỗ tiến sĩ); (3) nghĩa tạm thời ( ở đỗ). Hoặc rủ: (1) nghĩa thuyết phục người khác ( rủ nhau đi chơi); nghĩa buông thõng ( trướng rủ màn che). Còn rũ: nghĩa gục xuống vì hết sinh lực. Tốt nhất, chúng ta nên dùng từ điển Tiếng Việt để giải thích nghĩa của từ.

Trong dạy học, chúng ta cần giúp các em nắm được các quy tắc chính tả, giải thích cho HS hiểu nghĩa của các từ để các em viết đúng; Dành nhiều thời gian để HS thực hành viết chính tả. Để tránh nhàm chán cho HS, GV cần sử dụng kết hợp nhiều phương pháp như: tổ chức cho các em chơi các trò chơi trí tuệ, giải ô chữ, câu đố…; GV phải nắm bắt lỗi chính tả HS thường mắc phải ở dạng nào để có biện pháp cụ thể. Xây dựng nhiều bài tập ở các dạng cho các em thực hành, chú ý dạng trắc nghiệm mức độ vừa sức phù hợp trình độ và lứa tuổi. Chú trọng việc giải nghĩa các từ khó chứa dấu hỏi/ngã ở bất kỳ môn học nào trong chương trình.

Nhà trường Tiểu học là cái nôi đầu tiên giáo dục trẻ em khi các em bước vào tuổi đi học. Chính vì lẽ đó, chúng ta cần phải coi trọng việc rèn luyện cho học sinh các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, đặc biệt là kỹ năng viết đúng chính tả. Bởi vì, một khi đã trở thành thói quen viết không đúng thì sau này lớn lên khó sửa chữa được.

Với giáo viên, việc nắm chắc quy tắc, vận dụng vào từng bài tập một cách phù hợp để rèn luyện cho HS rất quan trọng và cần thiết. Mặt khác, qua thói quen giao tiếp nói và viết hàng ngày giúp các em viết đúng hỏi/ngã nên mọi lúc, mọi nơi GV phải là người mẫu mực trong khi viết để học sinh có cơ hội học tập theo. GV luôn phải tự học để nắm được quy tắc, căn cứ, cơ sở khoa học của việc nói, viết đúng chuẩn; Thường xuyên đọc sách báo, viết bài luận để có thói quen dùng từ và viết chính xác.

Tóm lại, rèn kỹ năng viết đúng chính tả nói chung và dấu hỏi/ngã nói riêng là một trong những mục tiêu quan trọng của môn Tiếng Việt trong quá trình dạy học và giáo dục ở trường Tiểu học. Muốn vậy, việc rèn luyện phải được thực hiện thường xuyên, tổ chức một cách bài bản, dựa trên những quy tắc, căn cứ khoa học nhất định nhằm tạo cho HS thói quen viết đúng chính tả, góp phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, từng bước hình thành nhân cách của trẻ.

Cách Sửa Lỗi Macbook Hiện Dấu Hỏi Chấm / 2023

Đôi lúc người sử dụng máy Macbook phải lo sợ khi Macbook hiện dấu hỏi chấm trên màn hình sau khi khởi động. Đó là một tín hiệu cho thấy Macbook của bạn không thể tìm thấy đĩa khởi động của nó và do đó nó không thể hiển thị màn hình chính, không khởi động được máy.

Mức độ hư hại cho máy được đánh giá từ ít (trước đây bạn đã bắt đầu từ một đĩa bên ngoài và cắm nó) đến nghiêm trọng hơn (ổ cứng của máy Macbook của bạn đã thất bại hoàn toàn). Dù là nguyên nhân nào, bạn sẽ tìm thấy lời khuyên và cách khắc phục lỗi trong bài viết sau. Đọc tiếp theo: Cách sửa một máy Macbook không bật.

Chúng tôi cũng có hướng dẫn đầy đủ để khắc phục một số sự cố phổ biến nhất của Macbook

Cài đặt Macbook của bạn ở Recovery mode

Giả sử bạn đang cố gắng khởi động từ ổ đĩa nội bộ của Macbook, điều đầu tiên cần làm là tắt máy Macbook bằng cách giữ nút nguồn, sau đó khởi động trong khi giữ phím Command và R cho đến khi bạn thấy logo Apple hoặc hình cầu xuất hiện trên màn hình. Thao tác này sẽ đặt máy Macbook của bạn ở Recovery mode – chế độ khôi phục.

Từ đây, bạn có thể thay đổi ổ đĩa khởi động bằng cách chọn Startup Disk từ menu Apple.

Sửa chữa ổ đĩa Macbook

Nếu quá trình sửa chữa, bạn có thể chọn đĩa trong Startup Disk trong menu Apple và khởi động lại.

Nếu sửa chữa không thành công hoặc bạn không thể nhìn thấy đĩa khởi động của bạn trong Disk Utilities, bạn sẽ cần phải xóa đĩa và cài đặt lại macOS.

Sao lưu dữ liệu Macbook

Nếu bạn đã có một bản sao lưu Time Machine gần đây, chọn Restore from Time Machine Backup trong cửa sổ macOS Utilities.

Nếu bạn đã có một bản sao khởi động gần đây, trong Carbon Copy Cloner hoặc SuperDuper, bạn có thể cắm nó vào, chọn nó như là đĩa khởi động và khởi động lại. Sau đó chờ một lúc để quá trình truyền tải thành công.

Làm theo hướng dẫn và đợi máy Macbook khởi động lại. Khi bạn thấy Setup Assistant, hãy chọn tùy chọn di chuyển dữ liệu từ một Đĩa khác và chọn đĩa khởi động thường xuyên trên Macbook.

Hoàn tất quá trình Setup và đợi máy Macbook kết thúc. Khi hoàn thành xong, xác nhận dữ liệu của bạn là trên ổ đĩa ngoài.

Xóa ổ đĩa khởi động và cài đặt lại macOS

Bây giờ bạn có thể xóa ổ khởi động thường xuyên của Macbook trong Disk Utility. Khởi động lại ở recovery mode , từ đĩa ngoài và chọn Reinstall macOS, lần này chọn ổ đĩa khởi động ban đầu của máy Macbook. Khi quá trình này hoàn tất và máy Macbook của bạn đã khởi động lại, hãy chọn lại tùy chọn dữ liệu di chuyển và lần này chọn ổ đĩa ngoài làm nguồn cho dữ liệu bạn muốn di chuyển.

Khi đã xong, bạn nên cài đặt macOS mới trên ổ đĩa khởi động với tất cả dữ liệu còn nguyên vẹn.

Nếu không khắc phục được lỗi Macbook hiện dấu hỏi chấm

Bạn đang xem bài viết Dùng Dấu Hỏi Và Ngã / 2023 trên website Toiyeucogaihalan.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!