Xem Nhiều 2/2023 #️ Đơn Yêu Cầu Hủy Bỏ Quyết Định Tuyên Bố Một Người Mất Tích 2022 # Top 8 Trend | Toiyeucogaihalan.com

Xem Nhiều 2/2023 # Đơn Yêu Cầu Hủy Bỏ Quyết Định Tuyên Bố Một Người Mất Tích 2022 # Top 8 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Đơn Yêu Cầu Hủy Bỏ Quyết Định Tuyên Bố Một Người Mất Tích 2022 mới nhất trên website Toiyeucogaihalan.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Pháp luật đã quy định rõ ràng về nhân thân và tài sản của người bị yêu cầu tuyên bố mất tích sau khi có quyết định của Tòa án. Tuy nhiên trên thực tế có những trường hợp người bị tuyên bố mất tích trở về. Căn cứ vào quy định của pháp luật, Luật Tuệ An xin cung cấp cho bạn đọc mẫu Đơn yêu cầu Hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích mới nhất 2020.

Căn cứ theo quy định của pháp luật, Luật Tuệ An xin tư vấn với những nội dung sau:

Hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Mẫu đơn Hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Luật Tuệ An – Tổng đài tư vấn luật miễn phí 24/7: 1900.4580. – Văn phòng luật uy tín tại Hà Nội. – Luật sư uy tín chuyên nghiệp.

Cơ sở pháp lý

Bộ luật dân sự 2015;

Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Nghị quyết 04/2018/NQ-HĐTP 

1. Hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Căn cứ khoản 1 Điều 390 BLTTDS 2015 quy định:

Hồ sơ yêu cầu như sau:

2. Mẫu đơn Hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMĐộc lập – Tự do – Hạnh phúc————————————-

ĐƠN YÊU CẦU GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

(V/v: Yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích)

Kính gửi: Tòa án nhân dân…………………………………………………………… (1)

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: (2)……………………………………………………………

Địa chỉ: (3) ………………………………………………………………………………………………………….

Số điện thoại (nếu có): …………………………..; Fax (nếu có):…………………………………..

Địa chỉ thư điện tử (nếu có): ………………………………………………………………………………….

Tôi (chúng tôi) xin trình bày với Tòa án nhân dân (1) …………………………………………..việc như sau:

– Những vấn đề yêu cầu Tòa án giải quyết: Yêu cầu tuyên bố ông/bà ……….. mất tích.

– Lý do, mục đích, căn cứ của việc yêu cầu Tòa án giải quyết đối với những vấn đề nêu trên: (4)…..…………………………………………………………………………………………………………

– Các thông tin khác (nếu có): (6) ………………………………………………………………………….

Tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn yêu cầu: (7)

1. ………………………………………………………………………………………………………………………

2. ……………………………………………………………………………………………………………………….

3. ………………………………………………………………………………………………………………………

Tôi (chúng tôi) cam kết những lời khai trong đơn là đúng sự thật.

                                                                                  ………., ngày……tháng……năm…. (8)

                                                                                                NGƯỜI YÊU CẦU (9)

Hướng dẫn viết đơn yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích:

(1) Theo quy định tại Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Tòa án nơi người bị yêu cầu tuyên bố mất tích cư trú cuối cùng có thẩm quyền giải quyết yêu cầu hủy bỏ tuyên bố một người mất tích.

Ví dụ: Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội; Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

(2) Nếu người yêu cầu là cá nhân thì ghi rõ họ tên, ngày tháng năm sinh và số chứng minh thư nhân dân/căn cước công dân/hộ chiếu hoặc giấy tờ tùy thân khác của người đó;

Nếu là cơ quan, tổ chức thì ghi tên cơ quan, tổ chức và họ tên của người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó.

Trường hợp có nhiều người cùng làm đơn yêu cầu thì đánh số thứ tự 1, 2, 3,… và ghi đầy đủ các thông tin của từng người.

(3) Nếu người yêu cầu là cá nhân thì ghi đầy đủ địa chỉ nơi cư trú, nơi làm việc (nếu có) của người đó tại thời điểm làm đơn yêu cầu.

Ví dụ: phường Ba Đình, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa;

Nếu là cơ quan, tổ chức thì ghi địa chỉ trụ sở của cơ quan, tổ chức đó tại thời điểm làm đơn yêu cầu.

Ví dụ: trụ sở tại số 20 phố Lý Thường Kiệt, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

(4) Ghi rõ lý do, mục đích, căn cứ của việc yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự đó: Có thể yêu cầu tuyên bố mất tích để làm thủ tục ly hôn, phân chia di sản thừa kế, yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích …..

(6) Ghi những thông tin khác mà người yêu cầu xét thấy cần thiết cho việc giải quyết yêu cầu của mình.

(7) Ghi rõ tên các tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn yêu cầu, là bản sao hay bản chính, theo thứ tự 1, 2, 3,…

Ví dụ:

1. Bản sao Giấy khai sinh của ông Nguyễn Văn A;

2. Bản sao giấy chứng nhận đăng ký kết hôn của ông Trần Văn B và bà Lê Thị C;…..

(8) Ghi địa điểm, thời gian làm đơn yêu cầu

Ví dụ: Hà Nội, ngày 08 tháng 11 năm 2019; Hà Nam, ngày 27 tháng 02 năm 2020.

(9) Nếu người yêu cầu là cá nhân thì phải có chữ ký hoặc điểm chỉ của người đó;

Nếu là cơ quan, tổ chức thì người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên, ghi rõ họ tên, chức vụ của mình và đóng dấu của cơ quan, tổ chức đó.

Trường hợp có nhiều người cùng yêu cầu thì cùng ký và ghi rõ họ tên của từng người vào cuối đơn yêu cầu.

Công Ty Luật Tuệ An ” VỮNG NIỀM TIN -TRỌN CHỮ TÍN”

Mọi gặp khó khăn trong các vấn đề pháp lý hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được giải đáp miễn phí 24/7 mọi lúc mọi nơi. Tổng đài tư vấn miễn phí: 1900.4580.

Bấm để đánh giá

[Tổng

0

Điểm trung bình:

0

]

Thủ Tục Giải Quyết Yêu Cầu Tuyên Bố Một Người Đã Chết

Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, NXB CAND, 2016

Bộ luật dân sự 2015

Bộ luật tố tụng dân sự 2015

Thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người đã chết, hủy quyết định tuyên bố một người là đã chết

Thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người đã chết

Thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người đã chết được thực hiện theo quy định từ Điều 391 đến Điều 393 BLTTDS năm 2015. Tuy nhiên, việc giải quyết yêu cầu tuyên bố một người đã chết không chỉ áp dụng các quy định này mà căn cứ theo phạm vi áp dụng để giải quyết các việc dân sự thì khi giải quyết yêu cầu tuyên bố một người đã chết còn có thể áp dụng các quy định khác của BLTTDS 2015 để giải quyết (Điều 361 BLTTDS 2015). Như vậy, để giải quyết yêu cầu này, Tòa án cần tiến hành các thủ tục sau:

Yêu cầu và thụ lý yêu cầu tuyên bố một người là đã chết

Thứ nhất, sau 03 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;

Thứ hai, biệt tích trong chiến tranh sau 05 năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;

Thứ ba, bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau 02 năm, kể từ ngày tai nạn hoặc thảm hoạ, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

Thứ tư, biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật này.

Như vậy, theo quy định này, người yêu cầu tuyên bố một người đã chết phải đáp ứng điều kiện về chủ thể, đó là phải có năng lực hành vi tố tung dân sự. Theo quy định tại khoản 2 Điều 69 BLTTDS 2015 thì “2. Năng lực hành vi tố tụng dân sự là khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng dân sự”. Năng lực hành vi tố tụng dân sự của cá nhân đước xác định trên cơ sở khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của cá nhân đó. Để có thể bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án thì đương sự phải có năng lực hành vi tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết yêu cầu: Khi nhận được đơn yêu cầu tuyên bố một người đã chết, Tòa án tiến hành xác minh yêu cầu đó có thuộc thẩm quyền giải quyết của mình không. Cụ thể, Tòa án căn cứ vào các quy định tại Điều 27, Điều 35, Điều 37 và Điều 39 để xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp mình.

Tòa án sẽ trả lại đơn yêu cầu trong những trường hợp sau đây:

+) Người yêu cầu không có quyền yêu cầu hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự;

+) Sự việc người yêu cầu yêu cầu đã được Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết;

+) Việc dân sự không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án;

+) Người yêu cầu không sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 363 của Bộ luật này;

+) Người yêu cầu không nộp lệ phí trong thời hạn quy định tại điểm a khoản 4 Điều 363 của Bộ luật này, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải nộp lệ phí hoặc chậm nộp vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan;

+) Người yêu cầu rút đơn yêu cầu;

+) Những trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Chuẩn bị xét đơn yêu cầu tuyên bố một người đã chết

Theo quy định tại Điều 392 BLTTDS 2015 thì thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu tuyên bố một người đã chết là 20 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu. Trong giai đoạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu tuyên bố một người đã chết, thẩm phán được phân công giải quyết yêu cầu phải tiến hành các công việc sau:

Sau khi thông báo thụ lý, thẩm phán được phân công phụ trách giải quyết yêu cầu tuyên bố một người đã chết tiến hành nghiên cứu đơn yêu cầu và các tài liệu chứng cứ mà người yêu cầu gửi kèm theo đơn yêu cầu. Trong trường hợp xét thấy chứng cứ có trong hồ sơ chưa đủ cơ sở để giải quyết thì thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ.

Thông báo tìm kiếm và công bố thông báo:

Theo quy định tại Điều 392 BLTTDS 2015 thì: “Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết, Tòa án ra quyết định thông báo tìm kiếm thông tin về người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết”. Như vậy, trong thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người đã chết thì thủ tục thông báo là thủ tục bắt buộc. Nội dung thông báo phải thể hiện các nội dung như sau: Ngày, tháng, năm ra thông báo; tên Tòa án ra thông báo; số và ngày, tháng, năm của quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú; tên, địa chỉ của người yêu cầu Tòa án thông báo; họ, tên và ngày, tháng, năm sinh hoặc tuổi của người cần tìm kiếm và địa chỉ cư trú của người đó trước khi biệt tích; địa chỉ liên hệ của cơ quan, tổ chức, cá nhân nếu người cần tìm kiếm biết được thông báo hoặc người khác có được tin tức về người cần tìm kiếm (Điều 384 BLTTDS 2015). Thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu đã chết phải được đăng trên một trong các báo hàng ngày của trung ương trong ba số liên tiếp, Cổng thông tin điện tử của Tòa án, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (nếu có) và phát sóng trên Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình của trung ương ba lần trong 03 ngày liên tiếp trong thời hạn một tháng kể từ ngày Tòa án ra quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt (Điều 385 BLTTDS 2015).

Trong thời hạn thông báo nếu người yêu cầu rút đơn yêu cầu hoặc người bị yêu cầu tuyên bố chết đã trở về và thông báo cho Tòa án biết thì Tòa án ra quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu.

Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày hết thời hạn thông báo mà người bị yêu cầu tuyên bố đã chết không trở về và có đủ các điều kiện, căn cứ thì Tòa án ra quyết định mở phiên họp xét đơn yêu cầu tuyên bố một người đã chết.

Phiên họp sơ thẩm giải quyết yêu cầu tuyên bố một người đã chết

Theo quy định tại Điều 369 BLTTDS 2015 thì phiên họp giải quyết việc dân sự được thực hiện theo các trình tự sau đây:

Thứ nhất, thư ký phiên họp báo cáo Thẩm phán, Hội đồng giải quyết việc dân sự về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên họp;

Thứ hai, thẩm phán chủ tọa phiên họp khai mạc phiên họp, kiểm tra về sự có mặt, vắng mặt của những người được triệu tập tham gia phiên họp và căn cước của họ, giải thích quyền và nghĩa vụ của người tham gia phiên họp;

Thứ ba, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người yêu cầu, người yêu cầu hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày về những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết, lý do, mục đích và căn cứ của việc yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự đó;

Thứ sáu, người làm chứng trình bày ý kiến; người giám định trình bày kết luận giám định, giải thích những vấn đề còn chưa rõ hoặc có mâu thuẫn (nếu có);

Thứ bảy, thẩm phán, Hội đồng giải quyết việc dân sự xem xét tài liệu, chứng cứ;

Thứ tám, kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết việc dân sự và gửi văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ việc dân sự ngay sau khi kết thúc phiên họp;

Cuối cùng, thẩm phán, Hội đồng giải quyết việc dân sự xem xét, quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự.

Trong trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu thì Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết. Trong quyết định này, Tòa án phải xác định ngyà chết của người đó và xác định hậu quả pháp lý của việc tuyên bố một người là chết về các quan hệ nhân thân và tài sản theo quy định của Bộ luật dân sự (Điều 393 BLTTDS 2015).

Thủ tục giải quyết yêu cầu hủy quyết định tuyên bố một người là đã chết

Đơn yêu cầu hủy quyết định tuyên bố một người là đã chết

Kèm theo đơn yêu cầu, người yêu cầu phải gửi tài liệu, chứng cứ để chứng minh người bị tuyên bố là đã chết trở về hoặc xác thực là người đó còn sống. Đây sẽ là những căn cứ để Tòa án ra quyết định hủy quyết định tuyên bố một người là đã chết.

Phiên họp giải quyết yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết

Khi có đơn yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết thì các thủ tục yêu cầu, thụ lý đơn yêu cầu, chuẩn bị xét đơn yêu cầu, mở phiên họp xét đơn yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết được thực hiện theo thủ tục giải quyết việc dân sự nói chung.

Theo quy định tại Điều 395 BLTTDS 2015 thì khi xét thấy có đủ căn cứ để chấp thuận đơn yêu cầu thì Tòa án ra quyết định hủy quyết định tuyên bố một người là đã chết, trong quyết định này Tòa án quyết định về hậu quả pháp lý của việc hủy quyết định tuyên bố một người một người là đã chết theo quy định của Bộ luật dân sự. Cụ thể:

Về quan hệ nhân thân: quan hệ nhân thân của người bị tuyên bố là đã chết được khôi phục khi Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết đã được Tòa án cho ly hôn thì quyết định ly hôn vẫn có hiệu lực pháp luật. Nếu vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết đã kết hôn với người khác thì việc kết hôn đó vẫn có hiệu lực pháp luật (khoản 2 Điều 73 BLDS 2015).

Về quan hệ tài sản: người bị Tòa án tuyên bố là đã chết mà còn sống có quyền yêu cầu những người đã nhận tài sản thừa kế trả lại tài sản, giá trị tài sản hiện còn. Trong trường hợp người thừa kế của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết biết người này còn sống mà cố tình giấu giếm nhằm hưởng thừa kế thì người đó phải trả toàn bộ tài sản đã nhận, kể cả hoa lợi, lợi tức, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường (khoản 3 Điều 73 BLDS 2015).

Ngoài ra, theo quy định tại khoản 4 Điều 73 BLDS 2015 thì khi Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết thì quan hệ tài sản của vợ và chồng được giải quyết theo quy định của BLDS và Luật hôn nhân và gia đình. Theo đó, trong trường hợp hôn nhân được khôi phục thì quan hệ tài sản được khôi phục kể từ thời điểm quyết định của Tòa án hủy bỏ tuyên bố vợ, chồng là đã chết có hiệu lực. Tài sản do vợ, chồng có được kể từ thời điểm quyết định của Tòa án về việc tuyên bố chồng, vợ là đã chết có hiệu lực đến khi quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố vợ, chồng là đã chết có hiệu lực là tài sản riêng của người đó. Trong trường hợp hôn nhân không được khôi phục thì tài sản có được trước khi quyết định của Tòa án về việc tuyên bố vợ, chồng là đã chết có hiệu lực mà chưa chia được giải quyết như chia tài sản khi ly hôn.

Thực tiễn giải quyết các yêu cầu tuyên bố một người đã chết, hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết

Một trường hợp cụ thể có sự sai sót trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố một người đã chết trong thời gian gần đây. Cụ thể như sau:

Đang bị truy nã đặc biệt trong vụ buôn lậu tại công ty T nhưng lại được Tòa án nhân dân quận tuyên bố “đã chết” theo đơn đề nghị. Theo nội dung vụ việc, quyết định số 11 năm 2012 của Tòa án nhân dân Quận 3 Thành phố Hồ Chí Minh tuyên bố 3 người là ‘đã chết’ gồm: ông Trần Quang Vũ (sinh năm 1968), bà Quách Mỹ Lệ (sinh năm 1969) và một trẻ sinh năm 1986 cùng có nơi cư ngụ cuối cùng ở đường Hai Bà Trưng, phường 8 Quận 3. Ngày được tuyên bố chết là ngày 27-12-2003.

Hồ sơ cũng thể hiện, người đưa ra yêu cầu tuyên bố một người là đã chết là ông Trần Đàm và bà Trần Thị Hảo – hai người này là cha và mẹ của Trần Quang Vũ. Lý do 2 ông bà này đưa đơn yêu cầu tòa tuyên như trên là vì 3 người này không còn ở nơi cư trú từ năm 1996 (đến thời điểm thụ lý đơn xin tuyên bố đã chết là 16 năm).

Quá trình thụ lý vụ việc và thu thập chứng cứ thể hiện cả 3 người này không còn cư trú ở địa phương và đã xóa hộ khẩu từ năm 1998. Từ đó, Tòa án nhân dân Quận 3 đã ra quyết định giải quyết yêu cầu, tuyên bố là “đã chết” đối với 3 người trên. Tuy nhiên, theo hồ sơ từ phía Bộ Công an thì Trần Quang Vũ là đối tượng bị truy nã thuộc vụ án Trần Đàm và đồng bọn buôn lậu hàng hóa qua biên giới xảy ra tại công ty Tân Trường Sanh và một số công ty khác ở Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh theo quyết định khởi tố vụ án hình sự từ năm 1997 của cơ quan An ninh điều tra Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an). Theo điều tra bước đầu, Trần Quang Vũ đã thực hiện hành vi buôn lậu và đưa hối lộ gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng rồi bỏ trốn. Vì thế, ngày 10-10-1997 Công an đã ra lệnh truy nã đã biệt toàn quốc và Văn phòng Interpol Việt Nam đã làm thủ tục truy nã quốc tế đối với Vũ .

Hiện nay, pháp luật dân sự chưa có quy định điều chỉnh việc giải quyết yêu cầu tuyên bố mất tích đối với người đang bị truy nã nên xung quanh chuyện này đang có hai luồng quan điểm trái ngược nhau.

Quan điểm thứ nhất cho rằng quyết định truy nã là cơ sở pháp lý để khẳng định chồng (hay vợ) của một người đã biệt tích. Nếu thời hạn trốn truy nã đã hơn hai năm thì tòa nên chấp nhận yêu cầu tuyên bố người chồng (hay người vợ) của đương sự đã chết và giải quyết ly hôn cho họ theo quy định của pháp luật dân sự. Những người theo quan điểm này phân tích: Trên thực tế, người bị truy nã có thể đang sống lẩn trốn hoặc đã chết mà không ai biết. Trường hợp họ còn sống, qua báo đài biết thông tin tìm kiếm nhưng vẫn cố tình im lặng để trốn tránh pháp luật, nếu không giải quyết tuyên bố chết thì yêu cầu ly hôn chính đáng của chồng (hay vợ) họ có thể bị “treo” mãi mãi.

Ngược lại, có quan điểm cho rằng người đang bị truy nã, về mặt pháp lý là đang lẩn trốn chứ không phải là biệt tích. Người bị truy nã là người có dấu hiệu phạm tội, còn người biệt tích là người không phạm tội. Hơn nữa, nếu tuyên bố mất tích, sau ba năm, vợ (hay chồng) của người bị truy nã lại có quyền yêu cầu tuyên bố người này đã chết. Sự kiện này sẽ dẫn đến việc lệnh truy nã mất hiệu lực pháp luật .

Trong trường hợp này, theo quan điểm của em việc giải quyết yêu cầu tuyên bố một người đã chết đối với người bị truy nã của Tòa án nhân dân quận 3 là trái với quy định của pháp luật. Bởi vì, thẩm phán nhận định hiện Vũ đang là đối tượng truy nã đặc biệt toàn quốc và Văn phòng Interpol Việt Nam làm thủ tục truy nã quốc tế. Vì bỏ trốn sau khi vụ án được điều tra, truy tố, xét xử, quyết định truy nã vẫn còn hiệu lực, không thể xem là biệt tích để áp dụng quy định BLDS biệt tích 5 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống… làm căn cứ để tuyên bố Vũ đã chết là không đúng.

Khi giải quyết yêu cầu tuyên bố một người đã chết, hủy quyết định tuyên bố một người là đã chết, Tòa án gặp phải một số khó khăn, vướng mắc như :

Thứ nhất, khó khăn trong việc xác định tư cách đương sự trong giải quyết việc dân sự nói chung và giải quyết yêu cầu tuyên bố một người đã chết, hủy quyết định tuyên bố một người là đã chết.

Thứ hai, khó khăn trong việc thực hiện thủ tục thông báo tìm kiếm người bịu yêu cầu tuyên bố chết trong giai đoạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu.

Thứ ba, khó khăn trong việc xác định ngày chết của người bị yêu cầu tuyên bố chết trong quyết định tuyên bố một người là đã chết.

Thứ tư, khó khăn trong việc xác định quyết định giải quyết yêu cầu tuyên bố một người đã chết và quyết định hủy quyết định tuyên bố một người là đã chết khi có hiệu lực pháp luật có thể bị kháng nghị không.

Từ những phân tích trên, có thể thấy việc giải quyết các yêu cầu tuyên bố một người đã chết và yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết của các Tòa án còn nhiều bất cập, hạn chế. Nguyên nhân một phần là do các quy định của pháp luật còn chưa hoàn thiện, không dự trù được hết các khả năng có thể xảy ra. Vì vậy, nhà làm luật cần quy định cụ thể hơn, đặc biệt là trường hợp giải quyết yêu cầu tuyên bố một người đã chết mà đang có quyết định truy nã của cơ quan có thẩm quyền.

Trân trọng ./.

Trình Tự, Thủ Tục Tuyên Bố Một Người Mất Tích, Công Ty Luật Vạn Phúc

Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Toà án giải quyết cho ly hôn “

Như vậy, khi người thân của người bỏ nhà đi từ 2 năm liền trở lên thì có quyền gửi đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố mất tích.

II. Trình tự, thủ tục tuyên bố một người mất tích.

Bước 2 : Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích, Toà án ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích.

Bước 3 : Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày hết thời hạn công bố thông báo, Toà án phải mở phiên họp xét đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích.

Bước 4 : Nếu Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu thì Toà án ra quyết định tuyên bố mất tích.

Đơn yêu cầu nộp cho Tòa án

Tài liệu, chứng cứ chứng minh người đứng tên yêu cầu là người có quyền yêu cầu.

Giấy CMND (hộ chiếu); hộ khẩu của các đương sự.

Chứng cứ chứng minh người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đã biệt tích hai năm liền trở lên mà không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hoặc đã chết và chứng minh cho việc người yêu cầu đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm hoặc Quyết định của Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú.

Kê khai đầy đủ những người thừa kế theo pháp luật của người bị yêu cầu tuyên bố mất tích và nộp giấy khai sinh hoặc chứng cứ chứng minh những người này là người thừa kế của người bị tuyên bố mất tích (nếu có người trong những người thừa kế này chết, thì kê khai tiếp những người thừa kế theo pháp luật của người này).

Chú ý: Đơn yêu cầu tuyên bố mất tích phải có đầy đủ nội dung quy định tại Khoản 2 Điều 312 Bộ luật Tố tụng dân sựnhư sau:

Ngày, tháng, năm viết đơn;

Tên Toà án có thẩm quyền giải quyết đơn;

Tên, địa chỉ của người yêu cầu;

Những vấn đề cụ thể yêu cầu Toà án giải quyết và lý do, mục đích, căn cứ của việc yêu cầu Toà án giải quyết việc dân sự đó;

Các thông tin khác mà người yêu cầu xét thấy cần thiết cho việc giải quyết yêu cầu;

Người yêu cầu là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ, nếu là cơ quan, tổ chức thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu vào phần cuối đơn.

IV. Thời gian giải quyết yêu cầu khởi kiện tuyên bố một người mất tích.

Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích, Toà án ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích. Trong thời hạn công bố thông báo, nếu người yêu cầu rút đơn yêu cầu hoặc người bị yêu cầu tuyên bố mất tích trở về và yêu cầu Toà án đình chỉ việc xét đơn yêu cầu thì Toà án ra quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích.

Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày hết thời hạn công bố thông báo, Toà án phải mở phiên họp xét đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích. Toà án có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận đơn yêu cầu. Trong trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu thì Toà án ra quyết định tuyên bố mất tích; trường hợp có yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích đó và được chấp nhận thì trong quyết định Toà án còn phải quyết định áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người đó theo quy định của Bộ luật dân sự.

Quý khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ vui lòng liên hệ:

CÔNG TY TƯ VẤN VẠN PHÚC LUẬT Điện thoại: 0650 650 7999 – 0932.350.835 – 0978 369 986 Website: chúng tôi Email:luatsu@luatvanphuc.vn

Trình Tự, Thủ Tục Yêu Cầu Tòa Án Tuyên Bố Mất Năng Lực Hành Vi Dân Sự

Người mất năng lực hành vi dân sự là người thành niên (đủ 18 tuổi trở lên) nhưng không có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, không thể tự mình giao dịch dân sự và được tòa tuyên mất năng lực hành vi dân sự…

1- Cơ quan tiếp nhận và giải quyết yêu cầu:

Tòa án nhân dân cấp huyện (Điều 27 và Điều 35 BLTTDS 2015);

2- Đối tượng có quyền yêu cầu Tòa tuyên mất năng lực hành vi dân sự:

3- Hồ sơ thủ tục yêu cầu tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự:

(Nếu không có kết luận của cơ quan chuyên môn có thẩm quyền, thì có thể yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định); và một số giấy tờ khác tùy vào trường hợp cụ thể.

Đơn yêu cầu – theo mẫu tại Nghị Quyết số 01/2017/NQ-HĐTP;

Tài liệu, chứng cứ chứng minh người đứng tên yêu cầu là người có quyền yêu cầu ;

Giấy CMND, Sổ hộ khẩu của người yêu cầu;

Bản kết luận của cơ quan chuyên môn có thẩm quyền và các chứng cứ khác để chứng minh người bị yêu cầu bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình.

Người yêu cầu có thể yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định pháp y tâm thần đối với người bị yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự đối với trường hợp chưa có kết quả kiểm tra của cơ quan chuyên môn về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của người được yêu cầu tuyên mất năng lực hành vi dân sự;

Khi có kết luận giám định, Toà sẽ ra quyết định mở phiên họp xét ;

Nếu chấp nhận đơn yêu cầu, Tòa ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự đối với người được yêu cầu.

5- Thời hạn yêu cầu tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự : (Điều 366 BLTTDS)

– Trong thời hạn 01 tháng kể từ khi Tòa có thụ lý đơn yêu cầu, Tòa phải ra quyết định mở phiên họp xét đơn yêu cầu;

Luật sư Nguyễn Thị Yến – Trưởng Chi nhánh Quảng Ninh của Công ty Luật TNHH Everest, tổng hợp

Để có tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: [email protected]

Nội dung tư vấn pháp luật dân sự mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.

Các điều luật chúng tôi viện dẫn trong bài viết có thể đã hết hiệu lực hoặc đã được sửa đổi, bổ sung. Các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, Chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.

Bạn đang xem bài viết Đơn Yêu Cầu Hủy Bỏ Quyết Định Tuyên Bố Một Người Mất Tích 2022 trên website Toiyeucogaihalan.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!