Xem Nhiều 2/2023 #️ Các Mẫu Đơn Quốc Tế: Ups # Top 4 Trend | Toiyeucogaihalan.com

Xem Nhiều 2/2023 # Các Mẫu Đơn Quốc Tế: Ups # Top 4 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Các Mẫu Đơn Quốc Tế: Ups mới nhất trên website Toiyeucogaihalan.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Giấy phép CITES

Giấy phép CITES phải được người gửi hàng và người nhận hàng cung cấp khi nhập khẩu hoặc xuất khẩu hàng hóa có nguồn gốc từ động vật hoặc thực vật bị đe dọa tuyệt chủng.

Toàn cầu

Nhập khẩu Xem/In PDF

Chứng nhận xuất xứ T-MEC

Chứng Nhận Xuất Xứ theo Thỏa Thuận Hoa Kỳ-Mexico-Canada cho phép các sản phẩm đủ điều kiện được giảm hoặc miễn thuế nhập khẩu giữa Hoa Kỳ, Canada và Mexico.

Hoa Kỳ, Canada, Mexico

Xuất khẩu Xem/In PDF

EUR1 (Tài liệu ưu tiên)

EUR 1 (Ưu đãi tài liệu) là một giấy chứng nhận xuất xứ ưu đãi và được yêu cầu để xác nhận các yêu cầu cho mục nhập được giảm hoặc miễn thuế.

Liên minh Châu Âu

Xuất khẩu Xem/In PDF

Giấy Ủy quyền (POA)-Tiếng Anh

Giấy ủy quyền (POA), do nhà nhập khẩu hoặc nhà xuất khẩu ký, ủy quyền cho UPS thay mặt nhà nhập khẩu hoặc nhà xuất khẩu để thực hiện các dịch vụ đã thỏa thuận và xử lý thủ tục hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu vào Canada hoặc xuất khẩu từ Canada.

Canada

Xuất khẩu Xem/In PDF

FCC 740- Biểu mẫu thiết bị radio

Mẫu của Ủy ban Truyền thông Liên bang (Federal Communications Commission, FCC) 740 là báo cáo về việc nhập khẩu các thiết bị tần số vô tuyến có khả năng gây nhiễu có hại.

Mỹ

Nhập khẩu Xem/In PDF

Giấy Ủy quyền (POA)-Tiếng Pháp

Giấy ủy quyền (POA), do nhà nhập khẩu hoặc nhà xuất khẩu ký, ủy quyền cho UPS thay mặt nhà nhập khẩu hoặc nhà xuất khẩu để thực hiện các dịch vụ đã thỏa thuận và xử lý thủ tục hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu vào Canada hoặc xuất khẩu từ Canada.

Canada

Xuất khẩu Xem/In PDF

FDA 2877- Biểu mẫu thiết bị bức xạ

Mẫu của Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (Food and Drug Administration, FDA) 2877 là tờ khai về các sản phẩm điện tử nhập khẩu (và các bộ phận) tuân theo tiêu chuẩn kiểm soát phóng xạ của FDA.

Mỹ

Nhập khẩu Xem/In PDF

Giấy chứng nhận khử trùng

Giấy chứng nhận khử trùng cung cấp bằng chứng về việc khử trùng hàng hóa vận chuyển (ví dụ: gỗ, hoa quả, hoa, v.v.) và hỗ trợ việc thanh tra kiểm dịch đối với bất kỳ hàng hóa có nguồn gốc thực vật hoặc động vật nào.

Úc

Nhập khẩu Xem/In PDF

Biểu mẫu GSP A (Tài liệu ưu tiên)

Mẫu GSP A (Tài liệu Ưu tiên) được yêu cầu để xác thực các yêu cầu đối với một mục nhập được giảm hoặc miễn thuế.

Toàn cầu

Nhập khẩu Xem/In PDF

Biểu mẫu khai báo Import Express KJ3

Trung Quốc

Nhập khẩu Xem/In PDF

Biểu mẫu khai báo tài sản cá nhân Import Express

Biểu mẫu khai báo tài sản cá nhân Import Express được yêu cầu bởi luật Hải quan Trung Quốc để nhập hoặc xuất các tài sản cá nhân đến hoặc từ Cộng hòa Trung Quốc.

Trung Quốc

Nhập khẩu Xem/In PDF

Biểu mẫu giấy phép nhập khẩu 7

Biểu mẫu giấy phép nhập khẩu 7 được các công ty chuyển phát nhanh hoàn thành khi đưa hàng dệt vào Hồng Kông thông qua dịch vụ vận tải hàng không hoặc hãng vận tải trên tàu hoạt động với tư cách là nhà nhập khẩu bất kể người nhận hàng

Hồng Kông

Nhập khẩu Xem/In PDF

Thông báo nhập khẩu

Thông báo nhập khẩu phải được lập thành hai bản trước khi nhập khẩu hàng hóa như được mô tả bởi nhà nhập khẩu.

Hồng Kông

Nhập khẩu Xem/In PDF

Thiết bị điện đã qua sử dụng

Phòng Công nghiệp Nhà máy phải cung cấp chứng chỉ mô tả chi tiết bất kỳ thiết bị điện nào được sử dụng được coi là nguy hiểm (Chương 85 của Hệ thống thuế mã sản phẩm).

Thái Lan

Nhập khẩu Xem/In PDF

Giấy chứng nhận (dệt may và trang phục) của quốc gia kém phát triển

Giấy chứng nhận hàng dệt may của quốc gia kém phát triển là bắt buộc đối với hàng dệt may và trang phục có xuất xứ được quy định trong chương lịch trình hài hoà 50-63.

Canada

Nhập khẩu Xem/In PDF

Mẫu đơn xin cấp phép nhập khẩu tự động cho các sản phẩm công nghiệp quan trọng

Mẫu đơn xin cấp giấy phép nhập khẩu tự động cho các sản phẩm công nghiệp quan trọng có thể được yêu cầu, nhưng không giới hạn, dầu thô, dầu thô và phân bón. (Xem xét các sản phẩm bổ sung)

Trung Quốc

Nhập khẩu Xem/In PDF

Giấy phép cho dược phẩm

Giấy phép cho Dược phẩm được cấp cho các công ty được chủ giấy phép sản phẩm ủy quyền để nhập khẩu các sản phẩm thuốc đã đăng ký. Giấy phép liệt kê các sản phẩm được phép nhập khẩu.

Singapore

Nhập khẩu Xem/In PDF

Đăng ký nhập khẩu dụng cụ y tế

Đăng ký nhập khẩu dụng cụ y tế là cần thiết để nhập khẩu bất kỳ thiết bị y tế nào, bao gồm cả dụng cụ và thiết bị được sử dụng trong y tế, phẫu thuật, nha khoa, hoặc khoa học thú y

Hàn Quốc

Nhập khẩu Xem/In PDF

Giấy phép cho thiết bị viễn thông

Giấy phép cho thiết bị viễn thông là cần thiết để sản xuất, nhập khẩu, thuê, bán, chào bán, hoặc sở hữu để bán bất kỳ thiết bị nào được phê duyệt hoặc theo Chương trình phê duyệt chung

Singapore

Nhập khẩu Xem/In PDF

Giấy chứng nhận A.TR

Giấy chứng nhận của Hiệp hội giữa Liên minh châu Âu và Thổ Nhĩ Kỳ (A.TR) được yêu cầu để xác nhận các yêu cầu đối với mục nhập được giảm hoặc miễn thuế đối với các lô hàng đến hoặc đi từ Thổ Nhĩ Kỳ.

Thổ Nhĩ Kỳ

Xuất khẩu Xem/In PDF

Manifestacion De Valor En Aduana

Biểu mẫu Manifestacion De Valor En Aduana được sử dụng khi yêu cầu thay đổi phương pháp xác định giá cước.

Mexico

Nhập khẩu Xem/In PDF

Số C&E 1047

Đăng ký Hải quan và Thuế tiêu thụ đặc biệt (C&E) số 1047 (Rev 1) còn được gọi là Đăng ký cấp phép sử dụng thủ tục nhập khẩu tạm thời.

Ireland

Nhập khẩu Xem/In PDF

Mẫu thông báo nhập khẩu thực phẩm

Nhật Bản

Nhập khẩu Xem/In PDF

C108 (Tài sản cá nhân cho khách du lịch)

Mẫu C108 được khách du lịch đến Vương quốc Anh sử dụng để khai báo đồ đạc cá nhân với Hải quan và yêu cầu bất kỳ khoản thuế áp dụng hoặc khoản miễn thuế nào.

Anh Quốc

Nhập khẩu Xem/In PDF

Yêu cầu kiểm dịch KDTV đối với giống, thực vật, hoa và sản phẩm động vật

Giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật được ban hành để chỉ ra việc nhập khẩu thực vật, sản phẩm thực vật hoặc các sản phẩm theo quy định khác đáp ứng các yêu cầu nhập khẩu được chỉ định.

Đài Loan

Nhập khẩu Xem/In PDF

Hóa đơn Thương mại

Hóa đơn Thương mại  là tài liệu chính được sử dụng cho việc kiểm soát nhập khẩu, định giá và xác định thuế quan cho tất cả các lô hàng không chứa tài liệu.

Toàn cầu (Bên ngoài Hoa Kỳ và Puerto Rico)

Xuất khẩu Xem/In PDF

Ứng dụng hạn ngạch thuế quan cho giày da và da

Đơn đăng ký hạn ngạch thuế quan đối với Da và Da giày được sử dụng để có được mức thuế suất chính đối với giày dép được làm hoàn toàn hoặc một phần từ da thuộc hệ thống hạn ngạch thuế quan.

Nhật Bản

Nhập khẩu Xem/In PDF

Khai báo hàng hóa không có người đi kèm (CBP3299)

Biểu mẫu Hải quan Hoa Kỳ 3299, Khai báo miễn thuế hàng hóa không có người đi kèm, được sử dụng để nhập các tài sản cá nhân hoặc vật dụng gia đình vào Hoa Kỳ miễn thuế.

Mỹ

Nhập khẩu Xem/In PDF

Tài sản cá nhân không có người đi kèm

Bộ Nông nghiệp và Hải quan New Zealand yêu cầu biểu mẫu tài sản cá nhân không có người đi kèm đối với tất cả các lô hàng tài sản cá nhân vào trong nước.

New Zealand

Nhập khẩu Xem/In PDF

Hóa đơn Hải quan Canada

Hóa đơn Hải quan Canada xác minh giá trị, số lượng và bản chất của lô hàng và được Cơ quan Dịch vụ Biên giới Canada yêu cầu.

Canada

Nhập khẩu Xem/In PDF

Khai báo tài sản cá nhân không có người đi kèm

Khai báo tài sản cá nhân không có người đi kèm là bắt buộc đối với tất cả các mục tài sản cá nhân nhằm đảm bảo du khách tuân thủ luật Hải quan, kiểm dịch, sức khỏe, động vật hoang dã và tiền tệ của Australia.

Úc

Nhập khẩu Xem/In PDF

Hóa đơn Thương mại

Hóa đơn Thương mại  là tài liệu chính được sử dụng cho việc kiểm soát nhập khẩu, định giá và xác định thuế quan cho tất cả các lô hàng không chứa tài liệu.

Hoa Kỳ, Puerto Rico

Xuất khẩu Xem/In PDF

Chứng nhận xuất xứ USMCA

Chứng Nhận Xuất Xứ theo Thỏa Thuận Hoa Kỳ-Mexico-Canada cho phép các sản phẩm đủ điều kiện được giảm hoặc miễn thuế nhập khẩu giữa Hoa Kỳ, Canada và Mexico.

Hoa Kỳ, Canada, Mexico

Xuất khẩu Xem/In PDF

Giấy Ủy quyền (POA)

Giấy ủy quyền (POA) ủy quyền cho UPS hành động thay mặt người gửi hàng để hoàn tất một hoặc cả hai tài liệu sau đây: Tờ khai xuất khẩu của đơn vị vận chuyển hoặc Giấy chứng nhận xuất xứ.

Mỹ

Xuất khẩu Xem/In PDF

Giấy Chứng nhận Nguồn gốc Xuất xứ Hoa Kỳ

Giấy chứng nhận xuất xứ do nhà xuất khẩu cung cấp và xác minh quốc gia xuất xứ của hàng hóa được nhập khẩu. Giấy này phải được xác nhận bởi Phòng Thương mại Hoa Kỳ.

Mỹ

Xuất khẩu Xem/In PDF

Thông Tin Xuất Khẩu Điện Tử (EEI)

Thông tin xuất khẩu điện tử (EEI) là bắt buộc đối với lô hàng với một mặt hàng B có giá trị lớn hơn 2.500 đô la Mỹ.

Mỹ

Xuất khẩu Xem/In PDF

Khai báo video/phim

Biểu mẫu khai báo video/phim cung cấp cho Hải quan Hoa Kỳ thông tin chi tiết về bất kỳ phim ảnh nào được nhập và được sử dụng để xác định các tài liệu khiêu dâm hoặc phong phú.

Mỹ

Nhập khẩu Xem/In PDF

C3 (Tài sản cá nhân)

Biểu mẫu C3 được các cá nhân sử dụng để khai báo đồ đạc cho Hải quan và yêu cầu bất kỳ khoản thuế áp dụng và miễn thuế nào khi trả lại hoặc chuyển nhà thông thường sang Cộng đồng Châu Âu.

Anh Quốc

Nhập khẩu Xem/In PDF

Biểu mẫu thuốc dùng cho cá nhân

Biểu mẫu thuốc dùng cho cá nhân là giấy chứng nhận y tế do bệnh viện được cấp phép cấp, có giá trị trong 30 ngày và được chấp nhận bởi các cơ quan Quản lý thực phẩm và dược phẩm để tiêu dùng cá nhân

Thái Lan

Nhập khẩu Xem/In PDF

Đăng ký chứng nhận thông quan/cấp phép an toàn sinh học (BACC)

Đăng ký chứng nhận thông quan/cấp phép an toàn sinh học (BACC) là bắt buộc đối với tất cả các lô hàng do Hải quan New Zealand và Bộ Nông nghiệp lựa chọn.

New Zealand

Nhập khẩu Xem/In PDF

Danh sách chi tiết gửi hàng

Danh sách chi tiết gửi hàng, nêu chi tiết nội dung cụ thể của mỗi tấm nâng hàng, là tài liệu tùy chọn mà bạn có thể chọn bao gồm trong lô hàng của mình. Danh sách này tương tự nhưng không thay thế Hóa đơn Thương mại được hải quan sử dụng để tính thuế quan và các khoản phí. Vì Danh sách chi tiết gửi hàng không chứa thông tin về chi phí hoặc giá trị thành phần gói hàng, danh sách này có thể sử dụng trong trường hợp thành phần gói hàng sẽ được chuyển tiếp cho bên thứ ba, chẳng hạn như khách hàng hoặc bên bán hàng.

Toàn cầu

Nhập khẩu Xem/In PDF

Xác minh danh tính khách hàng (KYC)

Biểu mẫu Xác minh danh tính khách hàng(KYC) được Bộ Tài chính Ấn Độ, Tổng cục Thuế và Hải quan Ấn Độ yêu cầu đối với các lô hàng xuất nhập khẩu đến/từ Ấn Độ, để xác minh danh tính của chủ hàng.

Ấn Độ

Nhập khẩu Xem/In PDF

Đăng ký kiểm dịch thực phẩm

Đăng ký kiểm dịch thực phẩm được hoàn thành để nhập khẩu thực phẩm. Đơn này được gửi đến văn phòng Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm khu vực giám sát hoặc Văn phòng Kiểm dịch Quốc gia.

Hàn Quốc

Nhập khẩu Xem/In PDF

Chứng nhận xuất xứ CUSMA-Tiếng Anh

Chứng Nhận Xuất Xứ theo Thỏa Thuận Hoa Kỳ-Mexico-Canada cho phép các sản phẩm đủ điều kiện được giảm hoặc miễn thuế nhập khẩu giữa Hoa Kỳ, Canada và Mexico.

Hoa Kỳ, Canada, Mexico

Xuất khẩu Xem/In PDF

Khai báo hàng xuất khẩu của Canada (B13a)

Mẫu khai báo hàng xuất khẩu B13A của Canada là tờ khai hải quan và được yêu cầu bởi Cơ quan dịch vụ biên giới Canada và Thống kê Canada để báo cáo xuất khẩu từ Canada.

Canada

Xuất khẩu Xem/In PDF

Chứng nhận xuất xứ CUSMA-Tiếng Pháp

Chứng Nhận Xuất Xứ theo Thỏa Thuận Hoa Kỳ-Mexico-Canada cho phép các sản phẩm đủ điều kiện được giảm hoặc miễn thuế nhập khẩu giữa Hoa Kỳ, Canada và Mexico.

Hoa Kỳ, Canada, Mexico

Xuất khẩu Xem/In PDF

Mẫu Đơn Cấp Đổi Bằng Lái Xe Quốc Tế

MẪU ĐƠN CẤP ĐỔI BẰNG LÁI XE QUỐC TẾ

Đổi bằng lái xe quốc tế với Visa Bảo ngọc

Mẫu đổi giấy phép lái xe cho người nước ngoài

Mẫu đơn xin cấp đổi bằng lái xe quốc tế cho người nước ngoài là mẫu được quy định bởi sở GTVT, theo đó, người sở hữu bắt buộc phải thực hiện và điền thông tin đầy đủ vào giấy theo mẫu sau:

Ngoài mẫu đơn xin cấp bằng lái xe quốc tế dành cho người nước ngoài trên, đi kèm với đó là một số giấy tờ hồ sơ như:

Bản dịch GPLX nước ngoài ra tiếng Việt được bảo chứng chất lượng dịch thuật của cơ quan công chứng hoặc Đại sứ quán, Lãnh sự quán tại Việt Nam mà người dịch làm việc và đóng dấu giáp lai với bản sao GPLX;

Bản sao chụp hộ chiếu (gồm phần số hộ chiếu, họ tên và ảnh người được cấp, thời hạn sử dụng và trang thị thực nhập cảnh vào Việt Nam);

Bản sao chụp một trong các giấy tờ sau đây : thẻ cư trú, thẻ lưu trú, thẻ tạm trú, thẻ thường trú, giấy tờ xác minh định cư lâu dài tại Việt Nam;

02 tấm hình màu (cỡ 3×4) kiểu chứng minh nhân dân.

Thủ tục để được cấp đổi GPLX quốc tế bao gồm:

– Đơn đề nghị cấp giấy phép lái xe quốc tế (theo mẫu có sẵn);

– Mang giấy phép lái xe, hộ chiếu vẫn còn giá trị để kiểm tra và đối chiếu;

Đổi bằng lái xe quốc tế ở đâu?

Bạn hoàn toàn có thể đổi bằng lái xe ở sở giao thông- vận tải của các tỉnh thành phố:

Hà nội:

Địa chỉ: 2 Phùng Hưng, P. Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội

Điện thoại: 024 3382 4404

Địa chỉ: 63 Lý Tự Trọng, Bến Nghé, Quận 1, Hồ Chí Minh

Điện thoại: 028 3829 0451

Mọi thủ tục về Đổi bằng lái xe tại Việt nam, Thủ tục đổi bằng lái xe tại Việt nam hãy liên hệ:

CÔNG TY TNHH VISA BẢO NGỌC

88-90 TRẦN HỮU TRANG,P.10, PHÚ NHUẬN,TP.HCM

Đt: (08) 384 52 850 – 0918 126 190 (Zalo, Line) – 0916926190 (Zalo,Line, Viber) – Mr.Cường

0915526190 – 0983915304 Ms. Trang

Email: visabaongoc@gmail.com

Facebook:htpp://facebook.com/visabaongoc

Website: https://visabaongoc.com/

Cách Viết Báo Cáo Khoa Học Cho Các Tập San Khoa Học Quốc Tế

Mới đây trên Tạp chí Hoạt động Khoa học, tác giả Phạm Duy Hiển nêu vấn đề về sự có mặt rất khiêm tốn của các nghiên cứu khoa học Việt Nam trên các tập san khoa học quốc tế. Đây là một ưu tư rất chính đáng. Trong ngành y sinh học, trong vòng 40 năm qua, số lượng bài báo từ các nhà khoa học ở Việt Nam chỉ trên dưới con số 300. Con số này cực kì khiêm tốn nếu so với 5.000 từ Thái Lan hay trên 20.000 từ Singapore. Trong thực tế, ở nước ta có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị và hấp dẫn, nhưng ít khi nào có mặt trên trường quốc tế. Vấn đề đặt ra là tại sao có tình trạng này, và làm sao chúng ta có thể cải thiện tình thế.

Qua kinh nghiệm cá nhân và tiếp xúc với đồng nghiệp trong nước, người viết bài này tin rằng một phần của vấn đề là các nhà khoa học nước ta thiếu kĩ năng phân tích dữ kiện và thiếu kĩ năng thông tin (communication skill). Về phân tích số liệu, sẽ bàn trong một dịp khác, ở đây tác giả bài viết chỉ bàn đến vấn đề thông tin, mà cụ thể là soạn một bài báo khoa học.

Đại đa số các tập san khoa học quốc tế sử dụng tiếng Anh để truyền đạt thông tin. Một phần không nhỏ các nhà khoa học nước ta chưa quen với tiếng Anh, và đó là một trở ngại lớn. Nhưng ngay cả trong số các nhà khoa học thạo tiếng Anh, thì họ lại thiếu kĩ năng viết báo khoa học. Bài viết này muốn góp một phần nhỏ trong nỗ lực cải thiện tình thế đó, bằng cách chia sẻ một số kinh nghiệm viết báo cáo khoa học với các đồng nghiệp và nhà nghiên cứu trẻ. Bài viết này là một tóm lược của một tài liệu bằng tiếng Anh dài hơn dùng để giảng dạy cho các nghiên cứu sinh ở Mỹ và Úc.

Trong hoạt động nghiên cứu khoa học, các bài báo khoa học đóng một vai trò rất quan trọng. Nó không chỉ là một bản báo cáo về một công trình nghiên cứu, mà còn là một đóng góp cho kho tàng tri thức của thế giới. Khoa học tiến bộ cũng nhờ một phần lớn vào thông tin từ những bài báo khoa học, bởi vì qua chúng mà các nhà khoa học có dịp trao đổi, chia sẻ và học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau.

Đối với cá nhân nhà khoa học, báo cáo khoa học trên các tập san khoa học quốc tế là một “currency” (đơn vị tiền tệ). Đó là những viên gạch xây dựng sự nghiệp của giới khoa bảng. Tại các đại học Tây phương, số lượng và chất lượng bài báo khoa học là tiêu chuẩn số một trong việc xét đề bạt lên chức giảng sư hay giáo sư. Vì thế công bố báo cáo khoa học, đối với giới khoa bảng Tây phương, là một việc làm ưu tiên hàng đầu của họ. Chính vì thế mà các đại học Tây phương có cái văn hóa gọi là “publish or perish” (xuất bản hay là tiêu tan). Nếu trong vòng 1 hay 2 năm mà nhà khoa bảng không có một bài báo nào đăng trên các tập san khoa học quốc tế, ban giám hiệu sẽ mời vị đó trả lời câu hỏi “tại sao”. Nếu có lí do chính đáng thì còn giữ chức vụ; nếu không có lí do chính đáng thì có nguy cơ mất chức như bỡn.

Nói tóm lại, báo cáo khoa học trên các diễn đàn khoa học quốc tế (không chỉ ở trong nước) là một việc làm chính yếu, một nghĩa vụ, và một điều kiện để tồn tại của một nhà khoa học. Nhưng từ lúc tiến hành nghiên cứu, thu thập dữ kiện đến lúc có báo cáo là một quá trình gian nan. Một công việc còn gian nan hơn nữa là làm sao đảm bảo báo cáo được đăng trên một tập san khoa học có uy tín trên thế giới. Vì thế, các nhà khoa học cần phải đặc biết chú ý đến việc soạn thảo một báo cáo khoa học sao cho đạt tiêu chuẩn quốc tế. Bài viết này mách bảo một cách thân mật những “mẹo” và kĩ năng để đạt tiêu chuẩn đó.

Báo cáo khoa học: khổ hạnh

Mỗi bài báo khoa học là một công trình khổ hạnh. “Khổ hạnh” ở đây phải được hiểu theo nghĩa vừa đau khổ, vừa hạnh phúc. Đau khổ trong quá trình chuẩn bị và viết thành một bài báo, và hạnh phúc khi nhìn thấy bài báo được công bố trên một tập san có nhiều đồng nghiệp đọc và chia sẻ. Để đạt kết quả sau cùng này, tác giả phải phấn đấu làm sao để giữ sự cân bằng giữa tính trong sáng nhưng nội dung phải đầy đủ. Bài báo phải làm sao hấp dẫn người đọc và để người đọc “nhập cuộc”. Bài báo phải được viết bằng một văn phong cực kì súc tích, nhưng phải đầy đủ. Đó là những yêu cầu rất khó mà không phải tác giả nào cũng đạt được.

Nếu không tiếp cận vấn đề một cách có việc hệ thống, tất cả những nỗ lực cho một bài báo khoa học có thể trở nên vô dụng, thậm chí đem lại ảnh hưởng xấu vì một công trình nghiên cứu sẽ không có cơ hội xuất hiện trên các tập san chuyên môn. Mặc dù ở các nước phương Tây, người ta đã có nhiều bài viết chỉ dẫn – thậm chí cả sách dạy – cách viết một bài báo khoa học, nhưng ở nước ta, hình như vẫn chưa có một tài liệu chỉ dẫn như thế. Bài viết này, vì thế, được soạn ra nhằm mục đích duy nhất là cung cấp cho bạn đọc những chỉ dẫn đơn giản và thực tế để sao cho bạn đọc có thể tự mình viết một bài báo khoa học đạt yêu cầu của các tập san khoa học quốc tế.

Vạn sự khởi đầu nan …

Viết một bài báo tốt là một việc làm không đơn giản chút nào, nếu không muốn nói là phức tạp. Nó đòi hỏi người viết phải sáng tạo và suy tưởng… trong lặng lẽ. Con đường dẫn đến một sản phẩm hoàn hảo không bao giờ là một con đường thẳng, mà là một con đường với nhiều ngõ ngách, nhiều đường cùng, và nhiều chông gai. Nói một cách ngắn gọn, viết cần phải có thời gian. Thành ra, cách tốt nhất là phải khởi công viết càng sớm càng tốt, đừng bao giờ để cho đến giai đoạn cuối của nghiên cứu mới viết.

Tác giả có thể viết ngay những phần cần viết ra của bài báo trong khi công trình nghiên cứu vẫn còn tiến hành. Phát họa ra phần (introduction) ngay từ khi công trình nghiên cứu đang được thai nghén. Viết phần dẫn nhập phương pháp (methods) ngay trong khi công trình nghiên cứu còn dở dang. Làm đến đâu, viết ngay đến đó. Sau cùng là một phát họa những biểu đồ, bản thống kê cần phải có trong bài báo.

Viết ra những ý tưởng và phương pháp sớm giúp cho nhà nghiên cứu rất nhiều trong những lần sửa chữa sau này. Chẳng hạn như làm sáng tỏ động cơ và lí do nghiên cứu trong phần dẫn nhập giúp cho nhà nghiên cứu nhận ra bối cảnh mà công trình nghiên cứu có thể đóng vai trò. Viết ra những phương pháp nghiên cứu giúp cho nhà nghiên cứu khỏi phải tốn công xây dựng lại những bước đi, những thủ tục mà công trình nghiên cứu đã hoàn tất. Việc phát thảo ra những biểu đồ và bản số liệu giúp cho nhà nghiên cứu tập trung vào nỗ lực phân tích dữ kiện. Và quan trọng hơn hết, khi ngồi xuống viết, tự việc làm đó, tạo cơ hội cho hay nói đúng hơn là bắt buộc nhà nghiên cứu phải suy nghĩ nghiêm túc về việc làm của mình.

Một điều quan trọng khác là tác giả cần phải bỏ ra một thời gian tịnh tâm suy nghĩ về cái thông điệp của công trình nghiên cứu cho cộng đồng khoa học. Trong phần này, tác giả nên chịu khó viết ra những điểm chính nhằm trả lời những câu hỏi sau đây: tại sao mình làm những gì mình đã làm; thực tế mình đã làm gì; mình phát hiện điều gì mới lạ; và những điều này có ý nghĩa gì?

Tập trung vào những thông tin chính

Mặc dù thành phần độc giả của các tập san khoa học có thể rất đa dạng, một đặc tính mà giới chuyên môn đều có chung là: bận rộn. Giới khoa học gia, bác sĩ, kĩ sư, nhà quản lí, lãnh đạo… có lẽ chỉ nhìn qua bài báo khoa học một cách nhanh chóng, chứ ít khi nào có thì giờ nghiền ngẫm từng chi tiết trong bài báo. Tuy rằng phần lớn tác giả nghiên cứu biết điều này, nhưng họ có thể không nghĩ đến khi đặt bút xuống soạn bài báo khoa học. Do đó, tác giả nên tự đặt mình vào vai trò của người đọc và suy nghĩ như người đọc bằng cách chú ý đến những gì mà người đọc muốn tìm hiểu: tựa đề bài báo, bản tóm tắt (abstract), những bản số liệu, và biểu đồ.

Tựa đề và tóm tắt

Bảng số liệu và biểu đồ

Yếu tố thị giác rất quan trọng. Nếu người đọc quyết định đọc bài báo (sau khi đã xem qua tựa đề và bản tóm tắt), họ sẽ tiếp tục xem đến các bảng thống kê và biểu đồ. Các bảng thống kê số liệu thường được dùng để trình bày những số liệu mang tính trang trọng, tính chính xác cao, tính chính thức. Các bảng thống kê có thể dùng để tổng hợp và so sánh số liệu của các công trình nghiên cứu trong quá khứ, để giải thích mối liên hệ giữa các nhân tố trong công trình nghiên cứu, hay trình bày những câu hỏi đã được sử dụng trong công trình nghiên cứu.

Người Trung Hoa từng nói ” Một biểu đồ có giá trị bằng một vạn chữ viết ” Mục đích của biểu đồ là cung cấp một ấn tượng về phát hiện chính của công trình nghiên cứu. Biểu đồ có khi được dùng làm tài liệu giảng dạy. Vì thế biểu đồ là một phương tiện hữu hiệu nhất để nhấn mạnh thông điệp của bài báo. Biểu đồ thường được sử dụng để thể hiện xu hướng và kết quả cho từng nhóm, nhưng cũng có thể dùng để trình bày dữ kiện một cách gọn gàng. Các biểu đồ dễ hiểu, nội dung phong phú là những phương tiện vô giá. Do đó, nhà nghiên cứu cần phải suy nghĩ một cách sáng tạo cách thể hiện số liệu quan trọng bằng biểu đồ.

Phát thảo một cách làm có hệ thống

Tiếp cận và phác họa cấu trúc của một bài báo trước khi đặt bút viết tạo điều kiện dễ dàng cho tác giả sau này. Bước đầu tiên đòi hỏi tác giả phải biết tập san mà mình muốn gửi bài báo, bởi vì mỗi tập san có những yêu cầu khác nhau về hình thức cũng như nội dung. Một khi đã xác định được tập san đối tượng, tác giả cần phải xem qua phong cách và hình thức bài báo mà tập san đó qui định. Đặc biệt là phải xem qua các bài báo đã được công bố trên tập san đó, như số lượng chữ là bao nhiêu, biểu đồ phải trình bảy như thế nào, bảng số liệu phải viết ra sao, trình bày phần tài liệu tham khảo theo cách gì, v.v… Phần lớn các tập san y khoa và sinh học đều tuân thủ theo các qui định được công bố trong tài liệu Uniform Requirements for Manuscripts Submitted to Biomedical Journals.

Có nhiều “chiến lược” để thu hút người đọc theo dõi bài báo của mình. Cách tốt nhất và hiệu quả nhất có lẽ là ngắn gọn. Không nên nhầm lẫn giữa sự phức tạp với tính tinh vi. Câu văn cần phải ngắn gọn, đơn giản, nhưng chính xác và trực tiếp đi thẳng vào vấn đề. Cũng cần phải nhận thức rằng có được một bài báo khúc chiết như thế không phải là điều dễ dàng chút nào – nó đòi hỏi nhiều thời gian và suy nghĩ.

Dẫn nhập

“Nhiệm vụ” thiết yếu nhất trong phần dẫn nhập là phải làm sao làm cho người đọc tiếp nhận bài báo và quan tâm đến kết quả của công trình nghiên cứu. Hơn nữa, phần dẫn nhập còn giúp cho người bình duyệt bài báo hay tổng biên tập tập san thẩm định tầm quan trọng của bài báo. Trong phần dẫn nhập, tác giả phải nói rõ tại sao công trình nghiên cứu ra đời và tại sao người đọc phải quan tâm đến công trình đó. Sơ đồ 1 sau đây phác họa cái khung cho phần dẫn nhập được viết với 3 đoạn văn.

Đọan văn thứ nhất mô tả một vấn đề chung hay yếu tố chung làm động cơ cho công trình nghiên cứu. Đặc biệt là câu văn đầu tiên phải “mạnh mẽ” và làm sao thu hút chú ý của người đọc. Đoạn văn thứ hai tập trung vào vấn đề cụ thể mà công trình nghiên cứu phải giải quyết. Trong đoạn văn này, tác giả có thể nêu ra những vấn đề mà người đọc có thể chưa từng biết qua. Đoạn văn thứ hai cũng cần nêu lên cái khoảng trống tri thức mà cho đến nay vẫn chưa có câu trả lời. Đoạn văn thứ ba mô tả các mục tiêu của công trình nghiên cứu. Phần dẫn nhập phải được làm sao mà đọc đến đoạn thứ ba, người đọc cảm thấy háo hức và thiết tha đọc các phần kế tiếp của bài báo.

Sơ đồ 1: Khung bài cho phần dẫn nhập (3 đoạn văn)

Vấn đề chung là gì, tình hình hiện nay ra sao?

Loãng xương là một bệnh nghiêm trọng trong người có tuổi vì nó là nguyên nhân dẫn đến gãy xương.

Có nhiều bằng chứng cho thấy carotid endarterectomy có thể làm giảm nguy cơ bệnh tim.

Tiểu đường thận (diabetic nephropathy) là nguyên nhân số một của bệnh thận vào giai đoạn cuối.

Vấn đề cụ thể là gì, và trong kho tàng tri thức còn khoảng trống nào?

Mật độ xương (BMD) là một yếu tố quan trọng trong việc chẩn đoán loãng xương trong người Âu Mĩ. Tuy nhiên trong người Việt sự chính xác của BMD trong việc tiên đoán gãy xương vẫn chưa được nghiên cứu.

Mặc dù microalbumin được đề nghị dùng để truy tìm bệnh tiểu đường thận, nhưng phần lớn bác sĩ vẫn không tuân theo qui định chung này.

Thế thì công trình nghiên cứu này sẽ đóng góp gì ?

Nghiên cứu khả năng ứng dụng BMD trong người Việt hay một dân số khác sẽ giúp cho việc phát triển một tiêu chuẩn chẩn đoán mới.

Để giúp cho bác sĩ thẩm định lợi ích của carotid endarterectomy, chúng tôi tính toán số ca phẫu thuật cần thiết để ngăn ngừa một ca bệnh tim trong những điều kiện khác nhau.

Nhằm mục đích phát triển một phương pháp mới và đơn giản hơn cho việc chẩn đoán tiểu đường thận, chúng tôi ứng dụng một mô hình quyết định (decision making model) và phân tích hệ quả của thuật chữa trị ACE

Có thể bài báo đề ra một phương pháp mới, và trong trường hợp đó, tác giả cần phải chú ý những tên gọi (và ý tưởng) xuất hiện nhiều lần trong bài báo. Tác giả nên suy nghĩ kĩ về những tên gọi này: phải dùng chữ ngắn gọn mà dễ hiểu. Nên gọi phương pháp điều trị là gì? Phải sử dụng từ gì để mô tả chỉ tiêu của nghiên cứu? Kinh nghiệm người viết bài này cho thấy trước khi viết cần phải liệt kê ra danh sách những từ hay sử dụng trong bài báo. Không có gì lẫn lộn và khó chịu người đọc hơn là dùng nhiều từ khác nhau để gọi một hiện tượng!

Một cấu trúc cứng nhắc sẽ làm cho phần phương pháp trở thành máy móc. Nhưng đó lại là cấu trúc mà các tập san y khoa đòi hỏi cho các nghiên cứu lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên (randomized clinical trial). Trong cấu trúc này, tác giả phải viết dưới các tiêu đề như khái quát, nơi làm nghiên cứu, tiêu chuẩn tuyển chọn đối tượng, chỉ tiêu chính của nghiên cứu, chỉ tiêu phụ, cách đo lường, phương pháp phân tích dữ kiện…

Trong các nghiên cứu khác, tác giả có thể tự mình sáng tạo ra những tiêu đề thích hợp với công trình nghiên cứu. Ngay cả nếu tác giả sau này phải xóa bỏ các tiêu đề này thì sự bố cục của chúng giúp ích cho tác giả rất nhiều. Có thể dùngmột biểu đồ như là một cách mô tả qui trình nghiên cứu (chẳng hạn như thiết kế, tuyển chọn bệnh nhân, và phân tích dữ kiện). Nếu cần, tác giả có thể thêm phần phụ lục để cung cấp chi tiết về phương pháp phân tích, mã (codes) dùng trong máy tính, hay phương pháp thu thập dữ kiện cùng phương pháp đo lường (đây là những phương pháp có thể giúp cho người duyệt bài hay người đọc có thể lặp lại thử nghiệm).

Kết quả

Phần kết quả phải được viết một cách ngắn gọn và đi thẳng vào vấn đề nêu ra trong phần dẫn nhập. Tác giả phải trả lời cho được câu hỏi “Đã phát hiện gì?” Cần phải phân biệt rõ đâu là kết quả chính và đâu là kết quả phụ. Phần kết quả phải có biểu đồ và bảng số liệu, và những dữ kiện này phải được diễn giải một cách ngắn gọn trong văn bản. Những số liệu này phải trình bày sao cho lần lượt trả lời các mục đích mà tác giả đã nêu ra trong phần dẫn nhập.

Những bài báo khoa học có giá trị thường là những bài báo đã được xem xét và duyệt đi duyệt lại nhiều lần, kể cả những lần phản hồi (response) hay phản biện lại những phê bình của những người bình duyệt. Điều này đòi hỏi bài báo, trước khi gửi đi cho một tập san, phải được các đồng nghiệp nội bộ đọc và phê bình. Tác giả không nên ngần ngại tiếp nhận những phê bình gay gắt từ đồng nghiệp. Để làm việc này, tác giả cần phải có một danh sách những đồng nghiệp có thể duyệt bài. Những đồng nghiệp này không hẳn phải là những tên tuổi lớn như giáo sư, mà có thể là nghiên cứu sinh. Thật ra, các giáo sư ít khi nào có thì giờ đọc kĩ; chính các nghiên cứu sinh hay đồng nghiệp cấp thấp thường là những người có khả năng và có thì giờ chăm chú, có động cơ để cho ý kiến một cách nghiêm chỉnh. Có hai nhóm đồng nghiệp có thể làm người duyệt bài nội bộ:

* Những người bình duyệt chung, nhiệm vụ chính của họ là xem xét cách viết của tác giả có dễ hiểu hay không. Bất cứ ai, kể cả những người không cùng chuyên môn, cũng có thể là người duyệt bài trong nhóm này, nhưng người duyệt bài lí tưởng nhất là người có nỗ lực suy nghĩ cẩn thận.

* Những người bình duyệt có cùng chuyên môn, nhiệm vụ của họ là giúp tác giả chuẩn bị để đối phó với những người bình duyệt của tập san và ban biên tập. Trong nhóm này, tác giả cần một hay hai thành viên trong cùng chuyên môn và có khả năng “soi mói” chi tiết hay nêu ra những sai sót của bài báo hay công trình nghiên cứu (chẳng hạn như nghiên cứu có đúng phương pháp không, diễn dịch có logic không, kết luận có đi ra ngoài dữ kiện không …). Trong nhóm này, người duyệt lí tưởng là một người “khó tính ” sẵn sàng nói thẳng với tác giả những gì họ nghĩ, thậm chí không mấy có cảm tình với ý tưởng của tác giả.

Cải tiến

Muốn trở thành một tác giả khoa học tốt cần phải có thời gian. Một bài báo khoa học thường nhắm vào một vấn đề hẹp. Nhưng tác giả phải có một cái nhìn rộng và lớn hơn khi đọc bài báo của mình. Cần phải đặt bài báo và kết quả nghiên cứu vào một bối cảnh lớn hơn để thấy thành quả ra sao hay những gì cần phải làm tiếp trong tương lai. sau đây phác thảo vài cách tiếp cận để tác giả có thể tự mình cải tiến. Nhiều tác giả thiếu kiên nhẫn vì họ chỉ muốn gửi bài báo đi càng sớm càng tốt, nhưng đó không phải là một hành động có hiệu quả cao. Do đó, điều thứ nhất là không nên hấp tấp trong khi viết. Sau khi viết xong bản thảo, có thể để đó vài ngày hay vài tuần. Sau đó, đọc lại và xem xét những chi tiết nào cần thêm hay cần bỏ đi. Đọc đi đọc lại với một cái nhìn mới để xem có gì cần phải phân tích thêm hay không, hay cách diễn dịch số liệu có hợp lí hay không. Kiểm tra lại cách viết và các đoạn văn có ăn khớp với nhau hay không, ý tưởng có trôi chảy hay không …

Sau đó là xem xét đến những chi tiết. Hai điểm quan trọng cần phải để ý ở đây. Thứ nhất, kiểm tra tính nhất quán: cả số liệu hay dữ kiện và các chú thích phải nhất quán với văn bản, bảng thống kê, và biểu đồ. Thứ hai là loại bỏ những “nhiễu” – tức là những điểm lặp đi lặp lại hay những điểm làm cho người đọc sao lãng cái thông điệp chính trong bài báo. Có khi cần phải kiểm tra từng chữ một xem nó có thích hợp với mục đích của bài báo hay không. Tránh dùng những từ ngữ tối nghĩa, những biệt ngữ khó hiểu, hay những viết tắt mà người ngoài chuyên môn chưa quen biết.

Một bài báo thường phải qua bình duyệt từ ban biên tập của tập san. Nếu tập san cho tác giả cơ hội trả lời những phê bình này, đó là một bước tiến tích cực. Tuy nhiên, việc trả lời những phê bình của ban biên tập không phải lúc nào cũng là việc làm thoải mái, dù sau khi phản biện thì bài báo sẽ tốt hơn. Trong khi trả lời phê bình, điều tối quan trọng là không nên có thái độ quá chống chế, hay quá công kích người phê bình. Tác giả có nhiệm vụ phải trả lời từng câu hỏi một, từng điểm phê bình một, và trả lời một cách lịch sự. Nếu tác giả không đồng ý với người bình duyệt, tác giả có quyền nói thẳng. Thông thường, sau khi trả lời bình duyệt, bài báo phải có sửa đổi, và tác giả phải thông báo cho ban biên tập biết những chỗ nào đã thay đổi và tại sao thay đổi.

Khoa học là một trường hoạt động khá bình đẳng. Công trình của tác giả có người khác bình duyệt, và tác giả cũng có cơ hội bình duyệt công trình của người khác. Thành ra, để giúp đỡ đồng nghiệp và để tự mình cải tiến, tác giả nên nhận lời bình duyệt công trình nghiên cứu của các đồng nghiệp. Nếu tác giả cảm thấy học hỏi được một vài điều từ việc trả lời phê bình của người khác, tác giả cũng có thể học hỏi nhiều điều từ việc đọc và phê bình công trình của đồng nghiệp. Qua đọc và xem xét cẩn thận, tác giả sẽ cảm thấy mình trưởng thành và thoải mái với các nguyên lí và sự sắp xếp của các lí giải trong một bài báo khoa học. Làm người bình duyệt là một hình thức tự mình trao dồi kĩ năng nghiên cứu: nhận dạng nhầm lẫn của người khác cũng có nghĩa là nâng cao kĩ năng nhận dạng nhầm lẫn của chính mình.

Ai trong chúng ta cũng muốn là tác giả của những bài báo khoa học tốt, những bài báo mà chúng ta có thể tự hào, và hi vọng sẽ được lưu truyền rất lâu trong tương lai. Tuy nhiên, dù chúng ta có cẩn thận cách mấy, và bất kể bao nhiêu lần chúng ta đọc đi đọc lại, rà soát, xác suất bài báo có ít nhất là một sai lầm hay lỗi nhỏ đều rất cao. Một cá nhân rất khó mà phát hiện tất cả các lỗi lầm của chính mình. Điều đó có nghĩa là tác giả cần đồng nghiệp, những người đọc và phê bình một cách nghiêm túc và thành thật. Tác giả cần phải bỏ tính tự ái, và không nên sợ hãi trước những phê phán. Theo kinh nghiệm của người viết bài này, những phê phán của đồng nghiệp, dù lớn hay nhỏ, dù gay gắt hay thân thiện, lúc nào cũng giúp cho bài báo trở nên hoàn hảo hơn.

Ở phần đầu tôi đã nêu ra vài lí do tại sao cần phải công bố báo cáo khoa học trên các diễn đàn khoa học quốc tế, ở đây tôi muốn nói thêm một lí do quan trọng hơn nữa. Đối với quốc gia, công bố báo cáo khoa học trên các diễn đàn khoa học quốc tế là một cách không chỉ nâng cao sự hiện diện, mà còn nâng cao năng suất khoa học, của nước ta. Ở phương Tây người ta thường đếm số lượng bài báo khoa học mà các nhà khoa học công bố trên các tập chí khoa học để đo lường và so sánh hiệu suất khoa học giữa các quốc gia. Hiện nay, trong bất cứ lĩnh vực nào, phải nhìn nhận một thực tế là hiệu suất khoa của nước ta chưa cao. Phần lớn các công trình nghiên cứu tại nước ta chỉ được kết thúc bằng những buổi nghiệm thu hay luận án. Đối với hoạt động khoa học, cho dù công trình đã được nghiệm thu hay đưa vào luận án, nếu chưa được công bố trên các diễn đàn khoa học quốc tế thì công trình đó coi như chưa hoàn tất, bởi vì nó chưa qua “thử lửa” với môi trường rộng lớn hơn.

Để kết thúc bài viết này, tôi xin mượn một câu nói của một người thông thái, Khổng Tử: ” Nếu dùng ngôn ngữ không đúng, thì những gì được phát biểu sẽ bị hiểu sai; nếu những gì phát biểu bị hiểu sai, thì những gì cần phải làm sẽ không thực hiện được; và những gì không thực hiện được, đạo đức và nghệ thuật sẽ trở nên tồi tệ hơn ” Và tôi cũng có thể thêm rằng, nước nhà sẽ thiệt thòi hơn.

Cải tiến bài báo: Không hấp tấp; đọc và sửa lại liên tục.

· Cần phải để dành thời gian, suy nghĩ lại, lĩnh hội vấn đề, đọc lại một lần nữa với một cách nhìn hoàn toàn mới · Xem xét lại cấu trúc bài báo; xem có phần nào thiếu nhất quán hay không; có mâu thuẫn trong lí giải hay không; xóa bỏ những phần lặp đi lặp lại.

Trả lời những phê bình của người duyệt bài

· Trả lời từng điểm một, tuyệt đối không chối bỏ bất cứ điểm nào; · Phải lịch sự trong khi trả lời, không dùng những từ mang tính thách thức và tấn công cá nhân; nếu cần bất đồng ý kiến với người duyệt bài, cứ nói thẳng như thế; · Thông báo cho biên tạp biết những gì đã thay đổi trong bài báo và giải thích tại sao phải thay đổi.

Cải tiến kĩ năng phê bình công trình của người khác

· Sẵn sàng phục vụ làm người bình duyệt bài cho các tập san khoa học; · Công bằng và vô tư trong việc phê bình; · Không duyệt bài nếu cảm thấy mình có mâu thuẫn quyền lợi cá nhân.

+ Nên bắt đầu viết sớm trước khi hoàn tất công trình nghiên cứu.

+ Tập trung vào những gì mà người đọc cần đọc: tựa đề, tóm tắt, biểu đồ, bảng số liệu.

+ Cải tiến bài báo bằng cách yêu cầu giúp đỡ từ đồng nghiệp.

Chứng Từ Thanh Toán Trong Thương Mại Quốc Tế

Bất cứ việc mua bán hàng hóa, chứng từ thanh toán đều đóng vai trò vô cùng quan trọng. Đặc biệt trong thanh toán quốc tế chứng từ thanh toán phù hợp giúp doanh nghiệp tiết kiệm được thời gian, hạn chế tối đa rủi ro trong xuất nhập khẩu hàng với đối tác nước ngoài.

Chứng từ thanh toán trong thương mại quốc tế

Hối phiếu là mệnh lệnh đòi tiền vô điều kiện do người bán ký phát để đòi tiền người mua. Hối phiếu có các đặc trưng sau:

– Tính bắt buộc

– Tính lưu thông

– Tính trừu tượng

Trong thương mại quốc tế người ta thường gặp các loại hối phiếu sau:

– Hối phiều thương mại; Hối phiếu ngân hàng

– Hối phiếu trơn; Hối phiếu kèm chứng từ

– Hối phiếu đích danh; Hối phiếu theo lệnh

– Hối phiếu trả ngay; Hối phiếu trả kỳ hạn

– Hối phiếu nhờ thu; Hối phiếu tín dụng chứng từ

2.Các chứng từ thanh toán về hàng hóa

– Hóa đơn thương mại:

Hóa đơn thương mại là chứng từ trung tâm của bộ chứng từ thanh toán và được lập thành nhiều bản gốc và được dùng vào các mục đích khác nhau. Hóa đơn thương mại có thể là hóa đơn tạm tính (Provisional invoice), hóa đơn chính thức (final invoice), Hóa đơn chiếu lệ (proforma invoice).

– Bản kê chi tiết (Specification):

Là chứng từ liệt kê chi tiết hàng hóa trong kiện hàng, lô hàng. Nó được dùng để bổ sung cho hóa đơn thương mại khi mua bán các lô có nhiều chủng loại và phẩm chất khác nhau. Ví dụ như mua bán một lô quần áo các loại. Bản kê chi tiết được làm thành nhiều bản phục vụ thuận lợi cho việc kiểm tra hàng khi giao nhận.

– Phiếu đóng gói (Packing list):

– Giấy chứng nhận phẩm chất (Certificate of quality):

Là chứng từ xác định phẩm chất hàng khi giao hàng và chứng minh hàng có phẩm chất phù hợp với các quy định trong hợp đồng. Giấy chứng nhận phẩm chất có thể do người sản xuất cấp hoặc công ty giám định được các bên thỏa thuận trong hợp đồng cấp.

– Giấy chứng nhận số lượng (Certificate of quantity):

Là chứng từ xác định mặt lượng hàng thực giao và thường do công ty giám định cấp.

– Giấy chứng nhận khối lượng (Certificate of weigh):

Số lượng giấy chứng nhận phẩm chất, phiếu đóng gói, bản kê chi tiết, giấy chứng nhận khối lượng, giấy chứng nhận số lượng sẽ do các bên quy định cụ thể trong hợp đồng và thường bao gồm nhiều bản chính, được dùng vào mục đích khác nhau.

3.Các chứng từ vận tải

Chứng từ vận tải là chứng từ do người chuyên chở cấp cho người gửi hàng để xác nhận rằng mình đã nhận hàng để chở. Trong thương mại quốc tế người ta thường gặp các chứng từ sau đây: Học chứng chỉ kế toán trưởng online

– Chứng từ vận tải biển

Vận đơn đường biển: là chứng từ do thuyền trưởng cấp trên cơ sở biên lai thuyền phó.

Có 3 chức năng chính:

– Là bằng chứng nhận hàng để chở

Mặt trước của vận đơn ghi đầy đủ các thông tin về hàng hóa: Số lượng hàng, số lượng kiện, tình trạng các kiện hàng khi nhận, tên người gửi, tên người nhận hàng…

+ Là bằng chứng về quyền sở hữu hàng hóa

Người cầm vận đơn gốc có quyền định đoạt hàng hóa: Nhận hàng từ tàu, bán lại hàng, cầm cố vay nợ.

Trong thương mại quốc tế chúng ta thường gặp các loại vận đơn:

+ Phân theo khả năng chuyển nhượng: Vận đơn đích danh, vận đơn vô danh, vận đơn theo lệnh. lập trình vba

+ Phân theo cách ghi chú trên vận đơn: Vận đơn hoàn hảo, vận đơn không hoàn hảo.

+ Phân theo thời gian chất xếp hàng lên tàu: Vận đơn đã bốc hàng, vận đơn nhận để xếp.

+ Căn cứ quá trình vận tải: Vận đơn đi thẳng, vận đơn chuyển tải, vận đơn liên hợp, vận đơn theo hợp đồng thuê tàu.

Theo cách xếp hàng: Vận đơn xếp hàng trên boong tàu.

Giấy gửi hàng đường biển: Giấy gửi hàng đường biển là chứng từ thay thế cho vận đơn đường biển, được dùng trong trường hợp hai bên quen thuộc với nhau và thường thanh toán bằng lối ghi sổ. Giấy gửi hàng đường biển được ký phát đích danh nên không thể chuyển nhượng được.

– Chứng từ vận tải hàng không

Vận đơn hàng không là chứng từ do cơ quan vận tải hàng không cấp cho người gửi hàng để xác nhận việc nhận hàng để chở. Vận đơn hàng không có 03 bản gốc và 6-11 bản sao đánh số từ 4-11:

+ Bản thứ nhất màu xanh lá cây do người gửi hàng ký tên được dùng cho người chuyên chở.

+ Bản thức hai màu hồng do người gửi hàng và người chuyên chở ký dùng cho người nhận hàng.

Nội dung của vận đơn gồm: Tên người gửi, tên người nhận, tên sân bay đi, tên sân bay đến, trị giá hàng, khối lượng hàng…

– Chứng từ vận tải đường sắt

Vận đơn đường sắt là chứng từ do cơ quan đường sắt cấp cho người gửi hàng khi nhận hàng để chở. Vận đơn đường sắt đóng vai trò biên lai nhận hàng để chở, bằng chứng của hợp đồng chuyên chở.

Trong vận đơn đường sắt có ghi các nội dung: Tên, địa chỉ người gửi hàng, tên địa chỉ người nhận hàng, tên ga đi, ga đến, tên hàng, số lượng kiện, khối lượng hàng…

Trong hợp đồng mua bán ngoại thương khi soạn thảo ký kết người ta thường phải quy định rất chặt chẽ: Tên chứng từ vận tải. số lượng bản gốc, nội dung ghi trên chứng từ vận tải và một số vấn đề khác.

4.Các chứng từ bảo hiểm

Chứng từ bảo hiểm là chứng từ do cơ quan bảo hiểm cấp nhằm điều chỉnh quan hệ giữa người bảo hiểm và người được bảo hiểm. Chứng từ bảo hiểm thường có:

– Bảo hiểm đơn các hàm excel trong kế toán kho

Bảo hiểm đơn thường có các nội dung:

+ Các điều khoản chung quy định trách nhiệm và nghĩa vụ của các bên

+ Các điều khoản riêng biệt về đối tượng bảo hiểm: Tên hàng, số lượng hàng tên phương tiện chuyên chở, trị giá bảo hiểm, số tiền bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm…

Bảo hiểm đơn thường được sử dụng khi các bên ít quen biết, ít tin tưởng lẫn nhau, các bên không ký hợp đồng bảo hiểm dài hạn.

Là chứng từ bảo hiểm do người bảo hiểm cấp cho người được bảo hiểm theo hợp đồng dài hạn. Nội dung của giấy chứng nhận bảo hiểm chỉ gồm các điều khoản về đối tượng bảo hiểm: tên hàng, số lượng hàng, tên phương tiện chuyên chở, trị giá bảo hiểm, số tiền bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm…

Nguồn tổng hợp bài viết: https://xuatnhapkhauleanh.edu.vn

Mong bài viết về Chứng từ thanh toán trong thương mại quốc tế sẽ hữu ích với bạn!

Bạn đang xem bài viết Các Mẫu Đơn Quốc Tế: Ups trên website Toiyeucogaihalan.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!