Xem Nhiều 5/2022 # 毛 筆 書 法 ; Science, Khoa Hoc, Khoahoc, Tin Hoc, Informatique;computer; Vat Ly; Physics, Physique, Chimie, Chemistry, Hoa Hoc, Sinh Vat, Biologie, Biology;biochimie; # Top Trend

Xem 11,187

Cập nhật thông tin chi tiết về 毛 筆 書 法 ; Science, Khoa Hoc, Khoahoc, Tin Hoc, Informatique;computer; Vat Ly; Physics, Physique, Chimie, Chemistry, Hoa Hoc, Sinh Vat, Biologie, Biology;biochimie; mới nhất ngày 22/05/2022 trên website Toiyeucogaihalan.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, bài viết này đã đạt được 11,187 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Cách Nhớ Chữ Hán Nhanh Và Dễ Dàng Hơn 50% So Với Học Thông Thường
  • Chữ Hán Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Cách Học Bảng Chữ Cái Tiếng Trung Đầy Đủ Và Chi Tiết Nhất
  • Nên Chọn Những Loại Bút Nào Để Luyện Viết Chữ Hán Đẹp?
  • Cách Học Kanji Theo Bộ
  •  

     

    Viết chữ Hán bằng bút lông 

    Mao bút thư pháp

    筆 書 法

     

     

    Viết chữ Hán cũng là

    một nghệ thuật, góp

    phần rèn luyện và

    nâng cao khiếu thẩm

    mỹ. Trung Quốc gọi

    Thư Pháp

    書法

    (shūfǎ), Nhật Bản

    gọi là Thư Đạo

    書道(shodō).

    Người Trung Quốc

    nói: «Thư pháp khả

    dĩ tu tâm dưỡng

    tánh, đào dã tâm

    tình.»

    書法可以修身養性陶冶心情

    (Thư pháp có thể

    giúp ta tu tâm,

    dưỡng tánh, rèn

    luyện tình cảm).

    Viết chữ Hán bằng

    mao bút mới là chính

    tông. Khi khổ luyện

    thư pháp với mao bút

    thì sau này dù ta

    viết chữ bằng bất cứ

    loại bút gì chữ cũng

    một số điểm cơ bản

    về thư pháp bút

    lông:

     

    I.

    VĂN PHÒNG TỨ BẢO

    文房四寶

     

    Hiện nay computer

    quả thực là bửu bối

    vô song, là một công

    cụ đắc lực của ta

    trong việc học tập

    Hán ngữ lẫn thư

    pháp, nhưng theo

    truyền thống thì chỉ

    có bốn bửu bối trong

    văn phòng (văn phòng

    tứ bảo):

    * Giấy (chỉ

    紙)

    * Mực (mặc

    墨)

    * Nghiên

    (nghiễn

    硯)

    * Bút (bút

    筆)

    Giấy cho dân nhà

    nghề là giấy Tuyên

    宣,

    thường gọi là

    «xuyến chỉ»

    (đọc trại của

    Tuyên chỉ

    宣紙),

    mỏng như giấy quyến

    vấn thuốc hút, dùng

    cho cả thư pháp lẫn

    hội họa, nhưng đắt

    tiền. Giấy Tuyên có

    hai loại: sinh

    chỉ

    生紙

    (giấy sống, chưa

    dúng phèn, dùng cho

    thư pháp) và thục

    chỉ

    熟紙

    (giấy chín, đã dúng

    phèn, dùng cho hội

    họa). Việc luyện tập

    tốn rất nhiều giấy,

    ta nên dùng giấy

    thường miễn hút mực

    (như giấy báo) là

    được.

    Mực có hai loại: mực

    thỏi và mực nước

    (mặc trấp

    墨汁).

    Mực thỏi có chất

    keo, loại tốt thường

    có mùi xạ hương. Mực

    tốt thì sau khi viết

    xong, ta bồi tranh

    chữ không bị nhoè

    mực. Mực nước (mặc

    trấp) tiện dụng

    nhưng không đủ độ

    sánh, ta cần mài

    thêm mực thỏi để

    tăng độ sánh đặc.

    Cách dùng mực rất

    quan trọng, tạo ra

    các hiệu quả khác

    nhau trên từng chất

    liệu hay các loại

    giấy. Trong nghề gọi

    mặc pháp

    墨法

    (phép dùng mực). Mài

    mực cũng là cách tập

    cổ tay trước khi cầm

    bút viết chữ. Nói

    chung viết chữ trên

    giấy không hút nước

    thì mực phải đặc,

    trên giấy hút nước

    như giấy tuyên thì

    mực hơi sánh. Đừng

    pha mực quá loãng.

    Nghiên mực có các

    kiểu dáng khác nhau,

    nhưng nguyên tắc là

    có một độ nghiêng

    nhỏ để cho mực đọng

    về một phía. Khi mài

    mực thì nhỏ một vài

    giọt mặc trấp vào

    cho hơi ướt đáy

    nghiên. Rồi mài thỏi

    mực theo chiều kim

    đồng hồ, thỉnh

    thoảng nhỏ thêm vài

    giọt mặc trấp. Pha

    chế vừa đủ cho một

    lần sử dụng, không

    nên đổ quá nhiều mặc

    trấp vào nghiên. Mực

    dùng không hết sẽ

    đọng thành vẩy và

    cặn cáu trên nghiên.

     

                                  

    * Nghiên mực đời Khang Hi

    * 3 mặt của một thỏi mực

                                 

                           

      

    Bút có nhiều loại:

    tiểu, trung, đại.

    Lông bút có loại

    cứng (như lông sói)

    có loại mềm (như

    lông thỏ) và có loại

    pha trộn các loại

    lông theo một tỉ lệ

    để thích hợp cho cả

    vẽ tranh lẫn viết

    chữ. Khác với cây

    bút của phương Tây

    là chủ yếu để viết

    chữ, mao bút của

    Trung Quốc có thể

    vừa viết chữ vừa vẽ

    tranh. Nói chung

    viết chữ nên dùng

    bút lông sói, còn vẽ

    tranh thì tùy theo

    trường hợp và tùy

    theo hiệu quả mong

    muốn mà ta sử dụng

    các loại bút khác

    nhau. Khi luyện thư

    pháp nên dùng bút cỡ

    trung để viết chữ

    Hán trong các ô

    vuông mỗi cạnh lớn

    chừng 5 hay 6 cm.

    Khi bắt đầu luyện

    tập thì phải đi từ

    chữ Khải. Không nên

    bắt đầu tập bằng

    tiểu khải (chữ Khải

    nhỏ chừng một phân

    vuông). Chỉ khi viết

    chữ to ta mới nghiên

    cứu được bút pháp và

    các bút thế. Khi

    thuần thục thì chữ

    viết phóng to thu

    nhỏ đều dễ dàng.

     

    * Bồn rửa bút bằng ngọc

    Các bộ phận của bút

    lông:

     * Đào tuyến

    陶線:

    sợi dây nhỏ ở một

    đầu quản bút, dùng

    treo bút lên giá bút

    sau khi sử dụng.

     * Bút quản

    筆管

    (bút can

    筆杆):

    quản bút, bằng trúc.

     * Bút hào

    筆毫:

    búp lông, giống búp

    sen chưa nở.

     * Bút căn

    筆根:

    phần búp lông dính

    với quản bút.

     * Bút đỗ

    筆肚:

    bụng búp lông.

     * Bút phong

    筆鋒

    (bút tiêm

    筆尖):

    ngọn bút.

     * Bút mạo

    筆帽:

    nắp bút (bằng

    trúc hoặc nhựa).

    Viết xong, ta

    rửa sạch bút,

    móc đào tuyến

    vào một cái giá

    để ngọn bút quay

    xuống đất. Không

    nên dùng bút mạo

    vì nó dễ làm hư

    lông bút.

     

    II.

    NGŨ CHỈ PHÁP 五指法

     

    Đây nói về cách cầm

    bút (chấp bút pháp

    執筆法).

    Ngũ chỉ chấp bút

    pháp

    五指執筆法

    hay ngũ tự chấp bút

    pháp

    五字執筆法

    là do Lục Hy Thanh

    陸希聲

    đời Đường sáng tạo.

    Năm ngón của bàn tay

    có tên: (1) Mẫu chỉ

    拇指

    (ngón cái), (2) thực

    chỉ

    食指

    (ngón trỏ), (3)

    trung chỉ

    中指

    (ngón giữa),

    (4)

    vô danh chỉ

    無名之

    (ngón áp út), (5)

    tiểu chỉ

    小指

    (ngón út). Năm ngón

    ứng với năm chữ (ngũ

    tự

    五字):

    * Yếm

    :

    tác dụng của ngón

    cái ép vào quản bút.

    * Áp

    :

    tác dụng của ngón

    trỏ ép vào quản bút,

    đối ứng với ngón

    cái.

    * Câu

    :

    tác dụng của ngón

    trỏ tựa vào quản

    bút, dùng móc phần

    quản bút có búp lông

    hướng vào lòng bàn

    tay.

    * Cách

    :

    tác dụng của ngón áp

    út, móng tay ngón

    này áp vào quản bút,

    đẩy phần quản bút

    này ra ngoài.

    * Để

    :

    tác dụng của ngón

    út, ép sát vào ngón

    áp út để trợ lực cho

    ngón áp út.

                     

                  

    Xem tiết diện quản

    bút trong hình trên

    đây: hai đầu ngón

    cái và trỏ kẹp lấy

    quản bút, rồi đầu

    ngón giữa áp vào

    quản bút, rồi móng

    tay ngón áp út chạm

    vào quản bút, và

    ngón út áp sát vào

    ngón áp út. Có bốn

    lực tác dụng vào

    quản bút (chiều mũi

    tên). Ngón cái và

    ngón trỏ làm điểm

    tựa giữ cho bút

    vững, các ngón còn

    lại dùng móc và đẩy

    phần quản bút có

    ngọn bút một cách

    linh hoạt. Đó là

    cách cầm bút để viết

    chữ khải.

    Tuỳ theo thư thể

    hoặc chữ cực lớn

    (đại tự

    大字)

    hoặc cây bút thật

    lớn (đại bút

    大筆)

    mà cách cầm bút cũng

    khác nhau. Cách cầm

    bút tạo ra nhiều

    hiệu quả khác nhau,

    giống như cách cầm

    mao bút vẽ tranh.

    Tuy nhiên, mới học

    thư pháp thì phải áp

    dụng ngũ chỉ chấp

    bút pháp. Xem hình

    sau đây:

    đúng Ngũ chỉ chấp

    bút pháp của Lục Hy

    Thanh. Các hình 2,

    3, và 4 là biến thể.

    Viết tiểu khải

    小楷

    (chữ khải nhỏ) thì

    vị trí của ngón cái

    và ngón trỏ ở khoảng

    1/3 quản bút về phía

    ngọn. Viết trung

    khải

    中楷

    (chữ khải vừa) hay

    đại khải

    大楷

    (chữ khải lớn) thì

    vị trí của chúng ở

    giữa quản bút.

    Khi chấp bút ta phải

    nhớ khẩu quyết “chỉ

    thực, chưởng hư”

    指實掌虛,

    nghĩa là đầu ngón

    tay áp vào bút, còn

    lòng bàn tay thì

    trống rỗng. Nhìn

    nghiêng, ngón cái và

    ngón trỏ tạo thành

    mắt phượng (phượng

    nhãn

    鳳眼).

     

    III.

    OẢN PHÁP

    腕法

     

    Đây là kỹ pháp của

    cổ tay (oản / uyển),

    gồm có:

    1. Chẩm oản

    枕腕

    (gối cổ tay): bàn

    tay trái úp và lót

    dưới cổ tay bàn tay

    phải, tức là cổ tay

    phải gối nhẹ lên bàn

    tay trái, và trượt

    nhẹ trên đó khi viết

    chữ. Hoặc cổ tay

    phải chỉ áp nhẹ trên

    mặt bàn (bàn tay

    trái không lót ở bên

    dưới). Khi viết ta

    chỉ lấy sức mạnh của

    ngón tay (chỉ lực

    指力)

    mà điều khiển ngọn

    bút. Oản pháp này

    dùng khi ta viết

    tiểu khải hoặc trung

    khải.

     Ngũ chỉ pháp                

    Chẩm oản

     

     

    Chẩm oản             

    Huyền oản            Đại huyền oản

                                

              

     

                                    

    2. Huyền oản

    懸腕

    (treo cổ tay): cũng

    gọi đề oản

    提腕,

    tức là cổ tay lơ

    lửng không tựa vào

    đâu cả, nhưng khuỷu

    tay thì chạm nhẹ mặt

    bàn. Khi viết chữ,

    ta chuyển động cả

    cánh tay, cổ tay, và

    ngón tay. Oản pháp

    này dùng khi ta viết

    đại khải.

    3. Đại huyền oản

    大懸腕

    (treo hổng cổ tay):

    cũng gọi huyền

    trửu

    懸肘

    (treo khuỷu tay).

    Toàn bộ cánh tay

    không tựa vào đâu

    cả. Khi viết chữ, ta

    chuyển động cả cánh

    tay, cổ tay, và ngón

    tay. Oản pháp này

    dùng khi ta đứng

    viết đại tự (cỡ

    10×10 cm) hoặc chữ

    thảo.

     

    IV.

    NHÃN PHÁP

    眼法

     

    Khi viết chữ, mắt ta

    tập trung nhìn thẳng

    vào chữ, không được

    nhìn nghiêng.

     

    V.

    THÂN PHÁP

    身法

    1. Thế ngồi:

    Ta ngồi ghế, đầu

    ngay ngắn, hai

    vai ngang nhau,

    lưng thẳng,

    không tỳ ngực

    vào bàn, hai

    chân để tự

    nhiên, không vắt

    tréo chân, không

    rung đùi, tay

    trái đặt trên tờ

    giấy giữ cho nó

    cố định trên

    bàn. Tập trung

    tư tưởng, hơi

    thở điều hòa.

    Một số nhà luyện

    khí công còn

    ngồi kiết già

    hoặc bán già

    trên ghế khi

    viết chữ.

    * Thế ngồi

     

     

     

    2. Thế đứng:

    Ta đứng viết đại

    tự (chữ vuông

    mỗi cạnh ít nhất

    là 10 cm). Hoặc

    ta đứng hai chân

    song song,

    khoảng cách hai

    bàn chân bằng

    vai; hoặc ta

    đứng chân phải ở

    trước, chân trái

    ở sau. Thân hình

    ngay ngắn, trầm

    tĩnh, dùng đại

    huyền oản. Một

    số người lúc

    viết chữ thì hay

    uốn éo, co giật,

    múa may, tay cố

    tình run như bị

    chứng parkinson.

    Đó là bàng môn

    tả đạo, ta không

    nên bắt chước.

    Dù ngồi hay

    đứng, ta cần tập

    trung khí lực ở

    hạ đan điền (vị

    trí dưới rốn

    khoảng một đốt

    tay), hơi thở

    điều hòa.

     

    * Thế đứng

     

     

     

    VI.

    BÚT PHÁP

    筆法

    1. Khởi bút

    起筆

    ,

    hành bút

    行筆

    , thu bút

    收筆

    :

     

    * Khởi bút

    起筆

    còn gọi là lạc

    bút 落筆, hạ

    bút 下筆. Có ba

    cách:

    (1) ngọn bút đưa

    sang trái rồi kéo

    sang phải; (2) ngọn

    bút đưa lên trên rồi

    kéo ngang một chút

    rồi kéo xuống; (3)

    đặt ngọn bút vào là

    kéo đi luôn. Cách

    (1) và (2) gọi là

    hồi phong 回鋒. Ta

    bắt buộc phải hồi

    phong khi viết các

    thư thể: triện, lệ,

    khải. Cách (3) dùng

    khi viết chữ hành,

    chữ thảo.

    * Hành bút

    行筆

    là bước trung

    gian giữa khởi

    bút và thu bút,

    tức là khi ngọn

    bút di động tạo

    ra nét chữ.

    * Thu bút

    收筆:

    dù ta kéo nét

    ngang hay nét

    sổ, đến cuối

    nét, ta dừng

    ngọn bút và thu

    hồi theo hướng

    ngược lại một

    chút rồi nhấc

    bút lên. (Xem

    hình bên)

     

     

    2. Tàng phong

    藏鋒

    & lộ phong

    露鋒

    :

     

    * Tàng phong

    cũng gọi ẩn phong

    隱鋒(giấu

    ngọn bút) hay

    nghịch phong

    逆鋒

    (ngược ngọn bút).

    Khi khởi bút, ta

    hướng bút ngược lại

    chiều muốn kéo

    (nghịch phong). Khi

    thu bút ta hướng

    ngược chiều đã kéo

    (cũng gọi là hồi

    phong

    回鋒).

    Tàng phong làm cho

    nét bút đầy đặn, khí

    lực sung mãn, ngoài

    nhu trong cương.

     

    * Lộ phong

    cũng gọi xuất

    phong

    出鋒,

    tức là để lộ nét bút do lúc khởi bút ta không tàng phong và lúc thu

    bút ta không hồi phong mà kéo ngọn bút đi luôn. Nét bút lộ phong cũng cần có gân

    cốt, biểu lộ tinh thần.

     

     

     

     

    3. Trung phong

    中鋒

    & trắc phong

    側鋒

    :

     

    * Trung phong

    cũng gọi chính phong

    正鋒,

    tức là khi búp lông đứng thẳng góc với mặt giấy. Ngọn bút nằm chính giữa nét

    bút, tạo sự hồn hậu, đầy đặn. Khi mới tập viết, ta nên dùng trung phong.

    * Trắc phong

    là khi búp lông đứng xiên với mặt giấy. Ngọn bút nằm ở cạnh

    nét bút. Bút tiêm và bút đỗ cùng tiếp xúc và di động trên mặt giấy, thích hợp

    viết chữ hành, chữ thảo. Khi mới tập viết, ta không nên dùng trắc phong.

     

    4. Chiết phong

    折鋒

    & chuyển phong

    轉鋒

    :

     

    * Chiết phong

    là đưa ngọn bút

    tạo nét gấp.

    Chiết phong tạo

    ra phương bút

    方筆

    (vuông).

    * Chuyển

    phong

    là chuyển ngọn

    bút tạo nét

    cong. Chuyển

    phong tạo ra

    viên bút

    圓筆

    (tròn).

     

    < trung

     

     

    5. Đề bút

    提筆

    & án bút

    按筆

    :

     

    * Đề bút:

    kéo ngọn bút nhẹ

    nhàng trên mặt

    giấy, nét bút

    đều đặn.

    * Án bút:

    ấn ngọn bút, tạo

    nét thô, đậm.

     

     

    6. Trú bút

    駐筆

    & quá bút

    過筆:

     

    * Trú bút:

    ngọn bút dừng như ở

    các chỗ cuối nét hay

    ở góc cạnh chữ.

    * Quá bút:

    nét bút lướt nhanh

    trên mặt giấy, nhưng

    có sức lực.

    Ngọn bút lúc đi, lúc

    dừng, lúc nhanh lúc

    chậm, tạo ra tiết

    tấu.

     

    7. Thuận bút

    順筆

    :

     

    Tùy theo thư thể mà

    thứ tự nét bút phải

    thuận, hợp với quy

    tắc viết chữ.

     

    8. Không hành

    空行

    :

     

    Trước khi hạ bút cho

    ngọn tiếp xúc mặt

    giấy, tay ta cầm bút

    viết thử phía trên

    cao của mặt giấy,

    ước lượng kết cấu

    của chữ và bố cục

    của tấm thư pháp.

     

    VII. PHƯƠNG PHÁP

    LUYỆN TẬP

     

    Luyện thư pháp có

    hai cách chính:

    Lâm

    theo các mẫu chữ có

    sẵn (thiếp

    帖)

    của các đại thư pháp

    gia. Các tự thiếp

    字帖

    bi thiếp

    碑帖

    (những thác bản

    拓本

    rập trên các bia đá)

    được bán rất nhiều,

    ta có thể sưu tầm và

    luyện tập.

     

    1. Mô thiếp

    摹帖

    :

    Mô là mô phỏng

    摹仿

    (bắt chước) theo

    mẫu:

     

    * Tả phỏng ảnh

    寫仿影

    (can-kê, calquer):

    Ta lấy một tờ giấy

    mỏng đặt lên trên

    trang chữ mẫu, các

    chữ mẫu sẽ hiện hình

    lờ mờ qua trang giấy

    mỏng. Ta dùng bút đồ

    theo.

     

    * Đơn câu

    單鉤:

    Ta lấy một tờ

    giấy mỏng đặt

    lên trên chữ

    mẫu, rồi dùng

    bút chì vẽ đường

    tim của từng nét

    chữ. Sau đó ta

    lấy tờ giấy ra

    ngoài, rồi dựa

    theo các đường

    tim này mà phục

    hồi các nét bút

    của chữ đó.

     

    * Song câu

    雙鉤:

    Ta lấy một tờ

    giấy mỏng đặt

    lên trên chữ

    mẫu, rồi dùng

    bút chì vẽ đường

    viền của từng

    nét chữ. Sau đó

    ta lấy tờ giấy

    ra ngoài, rồi

    dựa theo các nét

    chữ rỗng chỉ có

    đường viền này

    mà phục hồi các

    nét bút của chữ

    (thao tác này

    gọi là điền

    thực 填實:

    lấp đầy).

     

    2. Lâm thiếp

    臨帖

    :

    Lâm có hai loại:

    Cách lâm

    格臨

    Đối lâm

    對臨:

    Cửu cung cách    

    Mễ tự cách

    Hồi tự cách       

    Điền tự cách

     

    * Cách lâm

    格臨

    là viết nhái theo

    mẫu chữ có sẵn theo

    một khung có phân

    chia tỷ lệ (gọi là

    cách

    ).

    Lâm tương tự như

    cách thức mà các học

    sinh trung học dùng

    để tập vẽ bản đồ.

    Các cách thông dụng

    Cửu cung cách

    九宮格

    (khung 9 ô vuông),

    Mễ tự cách

    米字格

    (khung theo gạch

    ngang và chéo theo

    chữ mễ

    ),

    Hồi tự cách

    回字格

    (khung hình chữ hồi

    ).

    Điền tự cách

    田字格

    (khung có 4 ô vuông

    như chữ điền

    ).

     

    Một số tự thiếp

    và bi thiếp bán

    sẵn ở hiệu sách

    đã kẻ ô rồi

    (thường là theo

    cửu cung cách).

    Đối với các tự

    thiếp và bi

    thiếp không có

    kẻ ô, ta làm như

    sau: Lấy một tấm

    giấy trong hoặc

    một tấm plastic

    trong rồi dùng

    bút mực đen

    không phai mà vẽ

    các khung như

    trên với nhiều

    kích cỡ khác

    nhau. Khi tập

    viết, ta đặt

    khung đè lên chữ

    để thấy tỷ lệ

    các nét với

    nhau. Trên giấy

    tập viết, ta

    cũng vẽ khung

    phân ô như vậy

    và canh theo

    từng ô mà vẽ nét

    chữ. Việc này y

    như vẽ bản đồ.

    *

    Đối lâm

    對臨

    giống như thao tác

    của một họa sĩ vẽ truyền thần. Ta đặt chữ mẫu trước mặt, ngắm nhìn cho kỹ

    các nét rồi trực tiếp dùng bút viết chữ thẳng vào một tờ giấy trắng, hoàn toàn

    không sử dụng cửu cung cách hay các cách tương tự.

    Cách lâm giúp ta nắm

    được kết cấu của chữ

    (kết thể

    結體),

    vị trí nét bút chính

    xác của mặc tích

    墨跡

    của cổ nhân. Đối lâm

    giúp ta đạt được

    bút thế

    筆勢

    và thần thái của mặc

    tích.

    Quá trình luyện tập

    thông thường có thể

    tóm tắt bằng mấy

    chữ: độc

    讀,

    摹,

    lâm

    臨,

    bối

    背.

    * Độc

    (đọc) là xem xét kỹ

    lưỡng chữ mẫu. Độc

    theo nghĩa rộng cũng

    là tham bác các thư

    thể, tự thiếp, bi

    thiếp, các mặc tích

    của cổ nhân; đọc

    sách luận về thư

    pháp để nghiên cứu

    bút pháp, bút thế,

    kết thể, chương

    pháp; nghiên cứu sự

    tiến hoá của chữ

    Hán.

    *

    lâm

    đã giải thích trên,

    tức là giai đoạn

    thực hành.

    * Bối

    là bối tụng, là ghi

    nhớ nằm lòng, giống

    như “chụp hình” một

    chữ mẫu vào trong

    tiềm thức. Khi ta

    viết chữ đó, dường

    như nó hiện diện

    trước mặt ta.

    Phương pháp «chụp

    hình»

    rất hữu hiệu khi học

    chữ Hán và luyện thư

    pháp. Ta ngồi

    kiết già hay

    bán già, tập

    trung tư tưởng nhìn

    một chữ hồi lâu, rồi

    nhắm mắt lại. Trong

    khi nhắm mắt, trong

    đầu ta hiện ra hình

    ảnh của chữ đó rõ

    mồn một y hệt như ta

    đã thấy trước đó.

    Đồng thời ta dùng

    ngón tay trỏ vẽ

    trong không khí chữ

    đó. Chiêu này gọi là

    trừu không

    luyện tự

    抽空練字,

    một độc chiêu mà vua

    Đường Thái Tông

    唐世宗

    (Lý Thế Dân

    李世民)

    đã dùng để học bút

    pháp của Vương Hi

    Chi

    王羲之.

    Chiêu này rất tuyệt

    diệu khi ta học chữ

    hành, nhất là chữ

    thảo vốn là một thư

    thể giản ước chữ Hán

    trong vài nét bút.

    Khi hạ thủ công phu,

    ta phải noi theo thư

    thể của một đại thư

    gia nào đó. Thí dụ

    tập chữ khải, ta có

    thể chọn Liễu thể

    柳體,

    Nhan thể

    顏體,

    Âu thể

    歐體,

    hay Triệu thể

    趙體,

    tức là các thể khải

    thư của các đại thư

    gia đời đường như:

    Liễu Công Quyền

    柳公權,

    Nhan Chân Khanh

    顏真卿,

    Âu Dương Tuân

    歐陽詢,

    hay khải thư của đại

    thư họa gia đời

    Nguyên là Triệu Mạnh

    Phủ

    趙孟頫.

    Ban đầu, ta tập theo

    các tự thiếp của các

    đại thư gia trên.

    Giai đoạn này gọi là

    nhập thiếp

    入帖.

    Khi thuần thục ta

    phải có nét sáng tạo

    riêng của chính

    mình, mang cá tính

    của mình. Giai đoạn

    này gọi là xuất

    thiếp

    出帖.

                          

     

     

    * Thư pháp Liễu Công Quyền

     

    * Thư pháp Nhan Chân Khanh

                                       

    Mới học thư pháp ta

    phải bắt đầu từ chữ

    khải và phải là

    trung khải (mỗi chữ

    khoảng 5×5 cm); đừng

    luyện tiểu khải. Ta

    nên luyện Liễu thể

    và Nhan thể để nét

    chữ có gân cốt. Khi

    chữ trung khải của

    ta đã thuần thục, ta

    mới luyện tiểu khải

    và học qua chữ hành,

    chữ thảo. Một số học

    viên cũng có thể hạ

    thủ công phu với Âu

    thể hoặc Triệu thể.

    Chúng ta nên nghiên

    tập khải thư của

    Liễu Công Quyền và

    Nhan Chân Khanh.

    «Nhan cân Liễu cốt»

    顏筋柳骨

    (Nhan thể có gân,

    Liễu thể có xương)

    là một lời tán tụng

    lâu đời về khí lực

    và gân cốt của hai

    thư thể này. Đôi khi

    vì nôn nóng muốn tốc

    thành, nhiều người

    mới học mà vội luyện

    ngay chữ hành hay

    chữ thảo, hậu quả

    cực kỳ tai hại là

    nét chữ yếu đuối vì

    thiếu khí lực và gân

    cốt; sau này muốn

    quay lại với chữ

    khải thì nét bút đã

    thành tật, khó sửa

    chữa.

     

    VIII. CÔNG CỤ TRỢ

    HUẤN

    1. Dĩa VCD dạy

    thư pháp do

    Trung Quốc sản

    xuất: Các dĩa

    này đã bày bán

    đầy ở các hiệu

    sách ngoại văn.

    Phổ biến là các

    dĩa VCD của thư

    pháp gia trứ

    danh hiện đại

    Dương Tái Xuân

    楊再春

    giảng giải, do

    Đại học Thể dục

    Bắc Kinh xuất

    bản. Đủ các loại

    thư thể được

    giảng dạy, rất

    đáng cho người

    tự học tham

    khảo. Thí dụ:

    * 99 thiên mao

    bút tự tốc thành

    luyện tập pháp:

    Hành thư. 99

    天毛筆字速成練習法﹕行書 (cách luyện tập

    nhanh chữ bút

    lông trong 99

    ngày: chữ Hành)

    của Dương Tái

    Xuân.

     

    * Thư pháp Tô Thức (Tô Đông Pha)

     

    * Danh gia giáo

    nễ luyện thư

    pháp 名家教你練書法

    (các danh gia

    dạy bạn học thư

    pháp) xếp theo

    trong Series

    Thư pháp bệnh

    viện

    書法病院

    , phân tích các

    lỗi thông thường

    khi viết chữ.

    * Trung Quốc Thư

    pháp 中國書法.

    Trọn bộ khoảng

    10 dĩa CD, xếp

    theo từng chủ

    đề, do nhiều thư

    pháp gia khác

    nhau phụ trách

    giảng dạy, cũng

    do Đại học Thể

    dục Bắc Kinh

    xuất bản. v.v.

     

    2. Các sách thư

    pháp, tự thiếp,

    bi thiếp, tự

    điển thư pháp,

    v.v. do Trung

    Quốc xuất bản

    cũng là tài liệu

    tham khảo cần

    thiết. Hiện có

    bán tại các hiệu

    sách ngoại văn.

     

     3.

    Ngoài ra trên

    Internet có vô số

    trang Web về thư

    pháp. Ta vào

    search engine

    của

    Google,

    chọn phần ngôn ngữ

    Chinese hoặc

    English, rồi

    gõ chữ

    書法

    hoặc

    Chinese calligraphy,

    máy sẽ cho ta các

    địa chỉ mà ta cần

    tìm.

     

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cài Đặt Bộ Gõ Tiếng Trung Cho Máy Tính
  • Top 2 Cách Gõ Tiếng Trung Trên Máy Tính Phổ Biến Nhất Hiện Nay
  • Hướng Dẫn Chi Tiết Cách Gõ Tiếng Trung Trên Điện Thoại Android Và Ios
  • Cách Giới Thiệu Bản Thân Trong Cover Letter Từ A
  • Các Bước Viết Đơn Xin Việc (Cover Letter) Ấn Tượng Nhà Tuyển Dụng
  • Bạn đang xem bài viết 毛 筆 書 法 ; Science, Khoa Hoc, Khoahoc, Tin Hoc, Informatique;computer; Vat Ly; Physics, Physique, Chimie, Chemistry, Hoa Hoc, Sinh Vat, Biologie, Biology;biochimie; trên website Toiyeucogaihalan.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100